vanban.org

Bản án 20/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử ly hôn giữa chị Quách Thị Gi và anh Vũ Thanh Ngh.

Về con chung: Giao các cháu Vũ Thị Thu Thuỳ, sinh ngày 05-3-2009 và Vũ Gia Bảo, sinh ngày 15-4-2013 cho chị Quách Thị Gi trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi 2 cháu trưởng thành, có khả năng lao động tự lâp được. Anh Vũ Thanh Ngh không phải cấp dưỡng nuôi các con chung cùn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn: Giang - Nghị"
  • Tòa quyết gì? Xử ly hôn giữa chị Quách Thị Gi và anh Vũ Thanh Ngh.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VB
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HNGĐ-ST
Ngày 28-7-2023
V/v ly hôn giữa chị Gi – anh Ngh

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VB, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thi Gấm.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Kim Lệ.

2. Bà Nguyễn Thị Vân Anh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Ninh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện VB, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VB, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện VB xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 60/2023/TLST - HNGĐ ngày 09-5-2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03-7-2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Quách Thị Gi, sinh năm 1988.

Cu trú tại : Thôn Cốc Nam, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

2. Bị đơn : Anh Vũ Thanh Ngh, sinh năm 1985.

Cư trú tại: Xóm Tâm, xã Liên Minh, huyện VB, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa: Chị Gi vắng mặt có lý do; anh Ngh vắng mặt lần 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 08-5-2023, bản tự khai và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Quách Thị Gi trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Thanh Ngh tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 24-5-2008 tại Uỷ ban nhân dân xã Liên Minh, huyện VB, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn anh chị sống hoà thuận được khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hoà hợp; anh Ngh có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác dẫn đến hạnh phúc gia đình mất dần. Chị đã nhiều lần khuyên nhủ, cho anh Ngh cơ hội để sửa đổi nhưng anh Ngh vẫn không thay đổi. Chị và anh Ngh đã sống ly thân từ tháng 12-2017 đến nay. Từ thời điểm vợ chồng sống ly thân, chị và anh Ngh không quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa.

Chị Gi xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn gia đình đã trầm trọng, thời gian vợ chồng sống ly thân đã lâu. Vì vậy, chị xin được ly hôn với anh Ngh.

- Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là các cháu Vũ Thị Thu Thuỳ, sinh ngày 05-3-2009 và Vũ Gia Bảo, sinh ngày 15-4-2013. Hiện nay cả 02 con đang được chị Gi nuôi dưỡng. Ly hôn, chị Gi có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả 02 con và không yêu cầu anh Ngh cấp dưỡng nuôi con cùng chị. Chị có sức khoẻ, hiện nay chị làm việc tại Viettel huyện Văn Lãng và kinh doanh thêm quán cà phê với mức thu nhập là 15.000.000đ/tháng nên đủ điều kiện để tiếp tục nuôi con.

- Về tài sản chung, công nợ và các nội dung khác liên quan: Chị và anh Ngh không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình tố tụng, Toà án đã triệu tập anh Vũ Thanh Ngh đến làm việc và tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, tuy nhiên anh Ngh không đến Toà án làm việc. Vì vậy, Toà án không tiến hành hoà giải được.

* Người làm chứng là bà Bùi Thị Chi (mẹ anh Ngh) trình bày: Việc chị Gi xin ly hôn với anh Ngh thì anh Ngh có biết; bà nhận thay anh Ngh các văn bản tố tụng Toà án gửi về cho anh Ngh và đã chuyển lại cho anh Ngh. Tuy nhiên, anh Ngh vì lý do đi làm nên không đến Toà án làm việc được.

* Tại biên bản xác minh, thu thập chứng cứ ngày 15-6-2023, chính quyền địa phương cung cấp như sau: Anh Vũ Thanh Ngh và chị Quách Thị Gi tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Liên Minh, huyện VB vào ngày 24-5-2008; anh Ngh cư trú tại xóm Tâm, xã Liên Minh, huyện VB, tỉnh Nam Định.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VB tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng.

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng.

- Về yêu cầu khởi kiện của đương sự: Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Đề Ngh Hội đồng xét xử:

+ Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Quách Thị Gi và anh Vũ Thanh Ngh.

+ Về con chung: Giao các cháu Vũ Thị Thu Thuỳ, sinh ngày 05-3-2009 và Vũ Gia Bảo, sinh ngày 15-4-2013 cho chị Quách Thị Gi trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu trưởng thành, có khả năng lao động tự lập được. Anh Ngh không phải cấp dưỡng nuôi các con cùng chị Gi.

+ Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và những vấn đề khác có liên quan: Đương sự xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

+ Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Quách Thị Gi phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn anh Vũ Thanh Ngh có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm Tâm, xã Liên Minh, huyện VB, tỉnh Nam Định, do đó Tòa án nhân dân huyện VB, tỉnh Nam Định đã thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần 02 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Quách Thị Gi và anh Vũ Thanh Ngh tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Liên Minh, huyện VB, tỉnh Nam Định ngày 24-5-2008, như vậy hôn nhân của chị Gi và anh Ngh là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Sau kết hôn, theo chị Gi trình bày thì vợ chồng chung sống hòa thuận được 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hoà hợp; anh Ngh quan hệ với người phụ nữ khác nên dẫn đến hạnh phúc gia đình mất dần; anh chị đã sống ly thân từ tháng 12-2017 đến nay. Như vậy, trong thời gian vợ chồng chung sống chị Gi và anh Ngh không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, vợ chồng không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không gìn giữ, bảo vệ hạnh phúc gia đình dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, anh chị đã có thời gian sống ly thân kéo dài từ tháng 12-2017 đến nay, việc này trái với quy định tại Điều 19, Điều 21 Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử xác định tình trạng hôn nhân của chị Gi và anh Ngh đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Gi, xử cho chị Gi được ly hôn với anh Ngh là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Con chung của chị Gi và anh Ngh là các cháu Vũ Thị Thu Thuỳ, sinh ngày 05-3-2009 và Vũ Gia Bảo, sinh ngày 15-4-2013, từ thời điểm anh chị sống ly thân thì 02 con được chị Gi nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, từ tháng 10-2017 đến nay cháu Thuỳ và cháu Bảo được chị Gi nuôi dưỡng tốt; chị Gi có sức khỏe, có công việc và thu nhập ổn định; các con cũng có nguyện vọng được ở cùng với mẹ. Vì vậy, giao cháu Thuỳ và Bảo cho chị Gi tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện thực tế của đương sự, nguyện vọng của các bên cũng như quy định pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản, công nợ và các nội dung khác liên quan: Chị Gi xác định vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Quách Thị Gi phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

1. Xử ly hôn giữa chị Quách Thị Gi và anh Vũ Thanh Ngh.

2. Về con chung: Giao các cháu Vũ Thị Thu Thuỳ, sinh ngày 05-3-2009 và Vũ Gia Bảo, sinh ngày 15-4-2013 cho chị Quách Thị Gi trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi 2 cháu trưởng thành, có khả năng lao động tự lâp được.

Anh Vũ Thanh Ngh không phải cấp dưỡng nuôi các con chung cùng chị Quách Thị Gi.

Anh Vũ Thanh Ngh có quyền, nghĩa vụ thăm non con mà không ai được cản trở, nhưng anh Ngh không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Quách Thị Gi.

3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Quách Thị Gi phải nộp 300.000đ. Chị Gi đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0001653 ngày 09-5-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện VB được đối trừ (Chị Gi đã nộp xong).

4. Quyền kháng cáo: Chị Quách Thị Gi và anh Vũ Thanh Ngh vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ