- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA Hà Thị T - Hoàng Thanh T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TỈNH LÀO CAI Bản án số: 20/2023/HNGĐ-ST Ngày: 21/7/2023. V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Triệu Vĩnh Thái.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Lê Duy Bình.
- Ông Lê Hoàng Chuân.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai tham gia
phiên toà: Bà Nông Thị Mới - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2023/TLST-HNGĐ ngày 09/4/2023 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hà Thị T, Sinh năm 1997.
Nơi cư trú: Thôn K, xã L, huyện V, tỉnh L - Có đơn đề nghị vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Hoàng Thanh T, sinh năm 1996.
Nơi cư trú: Thôn K, xã L, huyện V, tỉnh L - Vắng mặt không có lý do.
Người làm chứng: Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1966 - Vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn K, xã L, huyện V, tỉnh L.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án
nguyên đơn chị Hà Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Thanh T tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau ngày 26/9/2016 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh L. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau cho đến khoảng năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, anh T hay uống rượu, khi say hay chửi bới, đánh chị. Mặt khác chị bắt đầu phát hiện anh T hay tụ tập với bạn bè xấu và sử dụng ma túy nên không làm việc gì để phát triển kinh tế gia đình. Khi chị khuyên dăn thì anh chửi bới đánh đập chị rất dã man. Gia đình anh T khuyên bảo đưa anh đi cai nghiện ma túy nhưng anh không chịu đi cai nghiện. Mâu thuẫn trầm trọng nhất vào ngày 20/01/2023 cũng vì lý do trên anh T đánh đập chị, không chịu được với các hành vi bạo lực của anh T, chị cùng con bỏ về nhà bố, mẹ đẻ của Chị ở xã H, huyện V sinh sống và sống ly thân với anh T từ đó cho đến nay. Chị và anh T không còn quan tâm đến nhau nữa cả về tình cảm lẫn kinh tế. Nay Chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị đề nghị được ly hôn với anh Hoàng Thanh T để yên tâm làm ăn nuôi dậy con cái.
Về con chung: Chị và Anh Hoàng Thanh T có 01 con chung cháu tên là Hoàng Hà A, sinh ngày 01/01/2017, hiện nay đang ở với chị, khi ly hôn chị đề nghị tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh Hoàng Thanh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung và nghĩa vụ tài sản: Vợ chồng chưa có tài sản chung, không vay nợ ai và không cho ai vay nợ nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
2. Đối với bị đơn anh Hoàng Thanh T:
Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án
số 30/TB-TLVA ngày 09/3/2023 cho bị đơn anh Hoàng Thanh T, hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Thông báo thụ lý nhưng anh T không nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, yêu cầu phản tố. Sau đó Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Nhưng anh Hoàng Thanh T, không chấp hành. Do vậy, hồ sơ vụ án không có ý kiến của anh Hoàng Thanh T.
Ủy ban nhân dân xã L, trưởng thôn K, xã L, người làm chứng xác định: Về quan hệ hôn nhân, con chung và mâu thuẫn vợ chồng như lời trình bày của chị Hà Thị T là đúng.
Ngày 15/5/2023, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ đối với nguyên đơn chị Hà Thị T có mặt, anh Hoàng Thanh T vắng mặt không có lý do. Chị Hà Thị T có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn mở phiên tòa để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Tại phiên Tòa:
- Nguyên đơn chị Hà Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
- Bị đơn Anh Hoàng Thanh T vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
* Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Thư ký tòa án, Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn chưa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo pháp luật tố tụng Dân sự.
* Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. Các Điều 228, 229, 238 và Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/ 2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử theo hướng:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử
cho chị Hà Thị T được ly hôn với anh Hoàng Thanh T.
- Về quan hệ con chung: Giao cháu Hoàng Hà A, sinh ngày 01/01/2017 cho chị Hà Thị T trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi, anh Hoàng Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về án phí: Chị Hà Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
\
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa; căn cứ kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên; căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về Tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện và các chứng cứ kèm theo chị Hà Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn với anh Hoàng Thanh T, sinh năm 1996, nơi cư trú: Thôn K, xã L, huyện V, tỉnh L. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai và quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị đơn anh Hoàng Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; người làm chứng vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn chị Hà Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
Về quan hệ hôn nhân: Theo lời khai của nguyên đơn chị Hà Thị T, người làm chứng, kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã L có đủ căn cứ xác định: Chị Hà Thị T và anh Hoàng Thanh T tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 26/9/2016 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh L, hôn nhân là hợp pháp. Sau kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một khoảng thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là khi tiến tới kết hôn vợ chồng có cách sống không hợp nhau, anh T không chăm lo xây dựng hạnh phúc gia đình mà còn sử dụng ma túy dẫn đến kinh tế gia đình khó khăn, không khí gia đình luôn căng thẳng, ngột ngạt và anh T còn có hành vi bạo lực đối với chị T. Từ ngày 20/01/2023 Chị T đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở xã H, huyện V sinh sống. Chị và anh T ly thân từ đó cho đến nay không ai còn quan tâm đến ai nữa.
Đối với anh Hoàng Thanh T: Quá trình giải quyết vụ án không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị T, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do vậy, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do phía nguyên đơn chị Hà Thị T, lời khai của người làm chứng; xác minh tại chính quyền địa phương để giải quyết vụ án.
Từ những phân tích trên có đủ căn cứ xác định vợ chồng chị T, anh T không có tiếng nói chung trong hôn nhân, thời gian sống ly thân đã lâu, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Hà Thị T về việc ly hôn anh Hoàng Thanh T.
Về con: Chị Hà Thị T và anh Hoàng Thanh T có 01 con chung cháu Hoàng Hà A, sinh ngày 01/01/2017, từ khi mâu thuẫn trầm trọng chị T cùng cháu An bỏ về nhà bố mẹ đẻ của chị, anh T không có trách nhiệm với con. Xét thấy, chị T là lao động tự do tại thôn K, xã L, huyện Văn Bàn, công việc chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi và đi làm thuê thu nhập hàng tháng khoảng 8.000.000đ. Anh T cũng là lao động tự do thu nhập trung bình khoảng 40.000.000đ/01 năm nhưng là người có sử dụng ma túy. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, cần tiếp tục giao cháu Hoàng Hà A cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp và anh T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản: Các đương sự không có yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn chị Hà Thị T phải chịu toàn bộ án phí theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. Khoản 4 Điều 147; Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Chị Hà Thị T:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị T được ly hôn với Anh Hoàng Thanh T.
- Về con: Chị Hà Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hoàng Hà A, sinh ngày 01/01/2017 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Thanh T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu An.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
2. Về án phí: Chị Hà Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai ký hiệu AC-21P số 0004415 ngày 09/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Chị Hà Thị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Hoàng Thanh T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh; - VKSND tỉnh; - VKSND huyện; - UBND xã L; - Chi cục THADS; - Các đương sự; - Lưu HS, LĐ, TP, VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Vĩnh Thái |