vanban.org

Bản án 20/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh L được ly hôn anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh Dũng, sinh ngày 03/6/2018 cho chị Nguyễn Thị Thanh L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, anh Nguyễn Văn T không cấp dưỡng nuôi con cho đến khi cháu Dũng đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẤN YÊN - TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HNGĐ-ST
Ngày 10-5-2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẤN YÊN,TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Hoàng Trọng Giáp;

2. Bà Nguyễn Thị Minh Lương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thu Thủy – Thư ký Toà án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.

Ngày 10-5-2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 19/2023/TLST-HNGĐ ngày 22/02/2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/4/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2023/QĐST- HNGĐ ngày 19/4/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 2000.

Địa chỉ: Thôn 5, xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái (Vắng mặt có lý do).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Thôn 5, xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái (Vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/02/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái vào ngày 16/5/2018 (Giấy đăng ký số: 09 ngày 16/5/2018). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng nhau tại thôn 5, xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Chị Nguyễn Thị Thanh L xác định vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T không chăm lo cho vợ con. Trong thời gian chung sống chị ốm đau, anh T không chăm sóc, chị đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ từ năm 2021 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Toà án nhân dân huyện Trấn Yên giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn T có một con chung là Nguyễn Minh Dũng, sinh ngày 03/6/2018. Ly hôn, chị có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung, không yêu cầu anh Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thanh L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật và giao nhận, tống đạt các văn bản hợp lệ cho anh Nguyễn Văn T nhưng bị đơn anh Nguyễn Văn T không đến Tòa án và không có bản tự khai. Do đó, trong hồ sơ vụ án không có lời khai của anh Nguyễn Văn T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh L có đơn xin ly hôn với anh Nguyễn Văn T, nơi cư trú: Thôn 5, xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn anh Nguyễn Văn T được triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về thủ tục hoà giải: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân huyện Trấn Yên đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật, giao nhận, tống đạt các văn bản hợp lệ cho anh Nguyễn Văn T nhưng Tám không có mặt tại Toà án. Căn cứ vào Điều 207, Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được nên Toà án nhân dân huyện Trấn Yên đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hoà giải theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh L và anh Nguyễn Văn T có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Uỷ ban nhân dân xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái vào ngày 16/5/2018 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Theo chị Nguyễn Thị Thanh L thì vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T không chăm lo cho vợ con. Trong thời gian chung sống chị L ốm đau, anh T không chăm sóc, chị L đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ từ năm 2021 đến nay. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Toà án nhân dân huyện Trấn Yên giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn T. Anh Nguyễn Văn T đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần để hoà giải nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do. Như vậy, anh Nguyễn Văn T đã tự từ bỏ quyền lợi và cơ hội hàn gắn cuộc sống vợ chồng. Dẫn đến hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thanh L, anh Nguyễn Văn T ngày càng trầm trọng, đời sống chung thực tế không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xử cho chị Nguyễn Thị Thanh L được ly hôn anh Nguyễn Văn T theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thanh L và anh Nguyễn Văn T có một con chung là Nguyễn Minh Dũng, sinh ngày 03/6/2018. Ly hôn, chị Nguyễn Thị Thanh L có nguyện vọng được nuôi con, không yêu cầu anh Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con. Anh Nguyễn Văn T không có ý kiến về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn. Vì vậy, cần giao cháu Nguyễn Minh Dũng cho chị Nguyễn Thị Thanh L được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, anh T không cấp dưỡng nuôi con cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác là hợp tình, hợp lý.

Về tài sản và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thanh L không yêu cầu Tòa án giải quyết, mặt khác do anh Nguyễn Văn T chưa có lời khai nên chưa có cơ sở xem xét. Vì vậy, Tòa án không xem xét giải quyết về tài sản và nợ chung.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh Lan phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh L được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh Dũng, sinh ngày 03/6/2018 cho chị Nguyễn Thị Thanh L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, anh Nguyễn Văn T không cấp dưỡng nuôi con cho đến khi cháu Dũng đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng tại Biên lai số AA/2022/0000314 ngày 22/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trấn Yên.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ