- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2023/HNGĐ –ST Ngày: 10- 02- 2023 V/v: Ly hôn và nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI – THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Tuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Lý Hồng Hạnh
2/ Bà Trần Thị Minh Hiền
- Thư ký Tòa án - Ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Tiên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai tham gia phiên toà:
Ông Bùi Văn Lƣ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 02 năm 2023. Tòa án nhân dân huyện Thới Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 271/2022/TLST- HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2022, Về việc: “Ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 675/2022/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1991. Địa chỉ: Xóm Thanh L, xã Kỳ T, huyện Tân K, tỉnh N (Xin xét xử vắng mặt)
Đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Thu H: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1992. (Xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm 3, thôn Đô S, huyện Đô L, tỉnh Nghệ A.
Bị đơn: Ông Lý Văn T, sinh năm 1994. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số 40 ấp Thanh B, xã Trường X, huyện T, thành phố C.
Con chung cần triệu tập: Lý Ngọc H, sinh ngày 28/9/2015.
Địa chỉ: Số 40 ấp Thanh Bình, xã Trường Xuân B, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Phía nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H yêu cầu được ly hôn với ông Lý Văn T.
Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, bà Nguyễn Thị Thu H (nguyên đơn) có lời khai trình bày như sau: Bà và ông Lý Văn T sau thời gian 2 năm tự quen biết đã tự nguyện xây dựng hôn nhân. Có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Trường Xuân B, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ vào ngày 16 tháng 3 năm 2015. Sau khi thành hôn thì bà và ông T cùng đi làm ở thành phố Hồ Chí Minh và lễ tết thì về bên chồng tại ấp Thanh Bình, xã Trường Xuân B, huyện Thới Lai. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng và bà về nhà cha mẹ ruột sinh sống và ly thân với ông T từ tháng 10 năm 2020 cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến việc ly thân là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, ông T thường xuyên nhậu và dọa nạt bà vô cớ, có lần còn đòi đánh bà. Ngoài ra không còn nguyên nhân mâu thuẫn nào khác. Bà đã nhiều lần khuyên giải để vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng ông T vẫn không cải sửa nên mâu thuẫn thêm trầm trọng. Qúa trình chung sống thì bà và ông T có 02 con chung tên Lý Ngọc Hân, sinh ngày 18/8/2015 và Lý Ngọc Linh, sinh ngày 12/6/2018 do ông Lý Văn T đang trực tiếp nuôi dưỡng. Thời gian ly thân cho đến nay bà chưa trực tiếp thăm nom con được, nguyên nhân do mâu thuẫn giữa vợ chồng nên bà chỉ liên lạc qua điện thoại với người nhà ông T để hỏi thăm con và gửi quần áo cùng các đồ dùng sinh hoạt khác để lo cho các con. Thời gian ly thân đến nay, bà và ông T không liên lạc nhau cũng không ai muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay bà xác định không thể hàn gắn được nữa nên xin ly hôn với ông Lý Văn T. Về con chung: Đồng ý giao Lý Ngọc Hân, sinh ngày 18/8/2015 và Lý Ngọc Linh, sinh ngày 12/6/2018 cho ông Lý Văn T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành, bà không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Bà và ông Lý Văn T không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Lý Văn T là bị đơn trong vụ án không có mặt theo thông báo và triệu tập của Tòa án, không cung cấp văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn nên không có lời khai.
Đối với cháu Lý Ngọc Hân thì ông Lý Văn T không dẫn cháu đến Tòa án nên không có lời khai.
Ý kiến của kiểm sát viên:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai mặc dù đã được triệu tập xét xử hợp lệ.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận toàn bộ. (Có bài phát biểu kèm theo).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Thu H là nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của bà H xin xét xử vắng mặt, ông Lý Văn T là bị đơn trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai mặc dù đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ. Tòa án căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt là phù hợp.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Lý Văn T có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Trường Xuân B, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ nên được xem là hôn nhân hợp pháp.
Bà Nguyễn Thị Thu H vẫn giữ quan điểm xin ly hôn với ông Lý Văn T. Đối với ông Lý Văn T từ lúc thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã cấp tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định nhưng ông Lý Văn T vẫn vắng mặt tại các phiên tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải không rõ lý do. Vấn đề này thấy rằng: Ông T không có mặt để tham gia phiên hòa giải cũng như phiên tòa xét xử cho thấy ông T không còn quan tâm đến vấn đề hôn nhân giữa ông và bà Nguyễn Thị Thu H. Xét mâu thuẩn vợ chồng của bà H và ông T đã đến mức trầm trọng, thời gian ly thân đã lâu, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu tiếp tục chung sống không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Hội đồng xét xử nghĩ cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H. Cho bà Nguyễn Thị Thu H ly hôn với ông Lý Văn T là đúng với thực tế và phù hợp với quy định của pháp luật.
Về con chung: Do ông Lý Văn T không có ý kiến về việc nuôi dưỡng con chung, không có ý kiến về việc có yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con hay không. Bà H thì đồng ý giao 02 con chung cho ông Lý Văn T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, bà H không đồng ý cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử cần giao Lý Ngọc H, sinh ngày 18/8/2015 và Lý Ngọc L, sinh ngày 12/6/2018 cho ông Lý Văn T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành, bà H không phải cấp dưỡng nuôi con là đúng thực tế và phù hợp với quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Bà H khai không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Dành cho ông Lý Văn T một vụ kiện dân sự khác liên quan đến việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung (nếu có).
Veà aùn phí hoân nhaân sô thaåm: Cần buộc bà Nguyễn Thị Thu H chịu noäp theo quy ñònh cuûa phaùp luaät.
Vì các lẽ trên;
QUYEÁT ÑÒNH
Áp dụng Điều 28, 35,39, Khoản 4 Điều 147, 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Aùp duïng Điều 56, 82, 83, 84 cuûa Luaâät Hoân nhaân vaø Gia ñìnhï;
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Thu H. Cho bà Nguyễn Thị Thu H và ông Lý Văn T được ly hôn với nhau.
Về con chung: Giao Lý Ngọc H, sinh ngày 18/8/2015 và Lý Ngọc L, sinh ngày 12/6/2018 cho ông Lý Văn T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành, bà Nguyễn Thị Thu H không phải cấp dưỡng nuôi con
Bà Nguyễn Thị Thu H được quyền lui tới thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
Vì quyền và lợi ích mọi mặt của con chung, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con khi có yêu cầu của cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Bà H khai không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Dành cho ông Lý Văn T một vụ kiện dân sự khác liên quan đến việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung (nếu có).
Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Thu H chòu nộp 300.000 ñoàng aùn phí hoân nhaân sô thaåm. Chuyển 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005824 ngày 16/11/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai thành tiền án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án hoặc kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại ủy ban nhân dân địa phương đối với đương sự vắng mặt để Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm./.
| Nơi nhận: -TAND thành phố Cần Thơ; -VKSND huyeän Thới Lai; -Chi cuïc T.H.A DS huyeän Thới Lai; -UBND xã Trường Xuân A; -Ñöông söï; -Löu hs, vp. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thaåm phaùn – Chuû toïa phieân toøa Nguyễn Hoài Tuyên |