vanban.org

Bản án 20/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Thanh G.

Về quan hệ hôn nhân: anh Lê Thanh G được ly hôn với chị Nguyễn Thị Hồng C. Về con chung: anh Lê Thanh G được trực tiếp nuôi cháu Lê Nguyễn Thanh K, sinh ngày 23-4-2019, hiện anh đang nuôi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Thanh G.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHƯỚC
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HNGĐ-ST
Ngày 20-4-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Mai Thanh Liêm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Thu Thảo

2. Ông Nguyễn Hoàng Trung

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh An – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Ging tham gia phiên tòa: Bà Kiều Thị Mỹ Tiên – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 219/2022/TLST-HNGĐ ngày 19-12-2022, về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07-3-2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Lê Thanh G, sinh năm 1995; địa chỉ: ấp T, xã H, huyện P, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng C, sinh năm 2001; địa chỉ: ấp T, xã H, huyện P, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).

3. Người làm chứng:

3.1. Bà Lý Thị Thu H, sinh năm 1974; địa chỉ: ấp T, xã H, huyện P, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).

3.2. Ông Lý Thanh V, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp T, xã H, huyện P, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Lê Thanh G và chị Nguyễn Thị Hồng C kết hôn vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Tiền G. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chị C không lo cho gia đình. Vợ chồng sống ly thân nhau từ tháng 01-2022 đến nay. Anh G yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị C.

Về con chung: anh G và anh chị C có 01 con chung tên Lê Nguyễn Thanh K, sinh ngày 23-4-2019, hiện anh G đang nuôi con. Anh G yêu cầu tiếp tục nuôi con.

Về cấp dưỡng cho con: anh G không yêu cầu chị C cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: anh G không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có.

Đối với chị Nguyễn Thị Hồng C, trong quá trình tố tụng chị đã được Tòa án giao các văn bản tố tụng và triệu tập nhiều lần, nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và cũng không có nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của anh G.

Tại biên bản Tòa án ghi lời khai ngày 14-02-2023, người làm chứng là bà Lý Thị Thu H trình bày:

Bà là mẹ ruột của anh G. Cuộc sống chung vợ chồng giữa anh G và chị C thường hay xảy ra mâu thuẫn do chị C không chăm lo phụ giúp gia đình. Khi con chung của anh G và chị C được khoảng 03 tuổi thì chị C bỏ nhà đi. Lúc đầu cũng có trở về thăm con, sau đó thì không về nữa. Cách nay khoảng 7-8 tháng có gọi về thăm con rồi tử đó đến nay không có gọi nữa. Khi vợ chồng anh G, chị C mâu thuẫn thì gia đình cũng nhiều lần động viên, hàn gắn, nhưng không có kết quả. Theo bà nhận thấy, anh G và chị C không có khả năng đoàn tụ.

Tại biên bản Tòa án ghi lời khai ngày 14-02-2023, người làm chứng là ông Lý Thanh V trình bày:

Ông là dượng của anh G. Theo ông được biết, mâu thuẫn giữa anh G và chị C là do chị C không chăm lo cho gia đình và chị C có quan hệ tình cảm bên ngoài. Anh G đã nhiều lần yêu cầu chị C sửa đổi, quay về nhưng chị C không đồng ý. Theo ông nhận thấy, anh G và chị C không có khả năng đoàn tụ.

Kiểm sát viên phát biểu: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát không có kiến nghị khắc phục vi phạm về tố tụng. Về ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh G, buộc anh G chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền của Toà án: Đây là vụ án Ly hôn, tranh chấp về nuôi con; bị đơn chị Nguyễn Thị Hồng C cư trú tại huyện P, tỉnh Tiền Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về sự vắng mặt của đương sự: nguyên đơn là anh Lê Thanh G có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn là chị Nguyễn Thị Hồng C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, Hội đồng xét xử căn cứ các điểm a, b khoản 2 Điều 227, các khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt anh G, chị C.

. Về quan hệ hôn nhân: xét hôn nhân giữa anh G và chị C là hôn nhân hợp pháp, anh chị kết hôn có đăng ký kết hôn vào ngày 19-3-2019 tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hòa Thành, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền G và được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chị C không lo cho gia đình. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 01-2022 đến nay.

. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa anh G và chị C đã trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh G yêu cầu ly hôn với chị C, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh G.

. Về con chung: anh G và chị C có 01 con chung tên Lê Nguyễn Thanh K, sinh ngày 23-4-2019, hiện anh G nuôi con.

. Xét trong thời gian qua, cháu Khôi sống với anh G, được anh chăm sóc chu đáo, cháu đã có cuộc sống ổn định bên anh G nên việc anh G yêu cầu trực tiếp nuôi con là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về cấp dưỡng cho con: anh G không yêu cầu chị C cấp dưỡng cho con, Hội đồng xét xử không xem xét

. Về tài sản chung: anh G không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về nợ chung: anh G trình bày anh và chị C không có nợ chung, Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: anh G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

. Xét ý kiến và đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng các điều 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các điểm a, b khoản 2 Điều 227, các khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Thanh G.

1. Về quan hệ hôn nhân: anh Lê Thanh G được ly hôn với chị Nguyễn Thị Hồng C.

2. Về con chung: anh Lê Thanh G được trực tiếp nuôi cháu Lê Nguyễn Thanh K, sinh ngày 23-4-2019, hiện anh đang nuôi.

Chị C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: anh G phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003347 ngày 12-12-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang, xem như đã nộp xong án phí.

4. Về quyền kháng cáo: anh G, chị C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ