- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị N xin ly hôn anh Q"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Võ Thị N xử cho chị Võ Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn Q.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2023/ HNGĐ-ST Ngày: 11/9/2023 V/v: “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Ông Châu Mạnh Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Cao Thế và bà Trần Thị Liên
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Mỹ Lợi - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
Ngày 11 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 72/2023/TLST - HNGĐ ngày 10/7/2023 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Võ Thị N, sinh năm 1984, địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1978, địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 21/6/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay chị Võ Thị N trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn Q có quá trình tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 23/11/2005 tại UBND xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng quá nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, nên vợ chồng sống không hạnh phúc vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2022 cho đến nay. Sau khi vợ chồng sống ly thân không còn quan tâm chăm sóc gì đến nhau nữa. Nay Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn anh Nguyễn Văn Q. Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên là Nguyễn Việt Q, sinh ngày 24/8/2006 và Nguyễn Thị Bảo N, sinh ngày 01/6/2010. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng giao con chung Nguyễn Việt Q cho anh Q nuôi dưỡng và chị có nguyện vọng nuôi con Nguyễn Thị Bảo N không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai. Về tài sản chung và nợ chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại bản tự khai khai ngày 27/7/2023 và biên bản hoà giải bị đơn anh Nguyễn Văn Q trình bày: Anh và chị nga có quá trình tìm hiểu và đi đến hôn nhân là tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 23/11/2005 tại UBND xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà nội ở thôn L, xã H, huyện Quảng Ninh. Đến thàng 10 năm 2022 chị N bỏ về nhà ngoại ở cho đến nay. Nguyên nhân là do phát sinh một số mâu thuẩn nhưng không đáng kể. Từ khi chị N bỏ về nhà bố mẹ đẻ, anh đã nhiều lần lên khuyên nhủ và động viên để vợ chồng quay về đoàn tụ nhưng chị N không chấp nhận. Anh đã cố gắng níu kéo tình cảm vợ chồng nhưng Chị N không cho cơ hội. Hiện nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không quan tâm đến nhau, nay chị N xin ly hôn anh không đồng ý và đề nghị Tòa án hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ. Về con chung, quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên là Nguyễn Việt Q, sinh ngày 24/8/2006 và Nguyễn Thị Bảo N sinh ngày 01/6/2010. Sau khi ly hôn anh có nguyện vọng nuôi cả hai con chung. Về tài sản chung và nợ chung, anh Q trình bày vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả thẩm vấn tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thẩm quyền: Chị Võ Thị N yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q, căn cứ quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, 36, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Anh Nguyễn Văn Q được Tòa án triệu tập 02 lần đến tham gia tố tụng tại phiên tòa vào các ngày 27/7/2023 anh Q có mặt và ngày 04/8/2023 anh Q vắng mặt không có lý do. Hiện nay anh Q vẫn đang làm ăn sinh sống địa phương nơi đăng ký hộ khẩu thường trú. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn Nguyễn Văn Q.
Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị N và anh Nguyễn Văn Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 23/11/2005 tại UBND xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm. Mặc dù chị N đã nhiều lần khuyên nhủ và cố gắng níu kéo nhưng không thành. Tuy nhiên, theo anh Q vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và không quan tâm đến nhau, anh mong muốn Tòa án giải quyết để vợ chồng trở về đoàn tụ. Hội đồng xét xử nhận thấy: Anh Q mong muốn vợ chồng trở về đoàn tụ, nhưng thời gian dài anh Q không có biện pháp khắc phục mâu thuẫn vợ chồng, thời gian vợ chồng sống ly thân hơn một năm và Anh cũng thừa nhận vợ chồng không quan tâm đến nhau. Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã triệu tập hoà giải đến nay tình cảm vợ chồng cũng không được cải thiện. Xét hôn nhân của vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận đơn khởi kiện của chị Võ Thị Nga.
- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên là Nguyễn Việt Q, sinh ngày 24/8/2006 và Nguyễn Thị Bảo N sinh ngày 01/6/2010. Sau khi ly hôn chị N có nguyện vọng giao con chung Nguyễn Việt Q cho anh Q nuôi dưỡng và chị nuôi con Nguyễn Thị Bảo N không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai. Anh Q có nguyện vọng nuôi hai con. Hiện nay cháu Q đang ở với anh Q và cháu có nguyện vong ở với anh Quả. Cháu N đang ở với chị N và có nguyện vọng ở với chị N. Do đó áp dụng Điều 58 luật Hôn nhân và gia đình giao cho anh Q được trực tiếp nuôi con chung là cháu Nguyễn Việt Q và chị N trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Thị Bảo N. Không ai phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho ai.
- Về tài sản và công nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Võ Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Toà án
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 273, 275 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Khoản 1 Điều 56, và các Điều 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Võ Thị N xử cho chị Võ Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn Q.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Việt Q, sinh ngày 24/8/2006 cho anh Nguyễn Văn Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Thị Bảo N sinh ngày 01/6/2010 cho chị Võ Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng không ai phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng hoặc việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản và nợ chung: Chị N, anh Q không yêu cầu Toà án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Võ Thị N phải nộp 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh theo biên lai số 0004123 ngày 10/7/2023. Chị N đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, vắng mặt bị đơn. Báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 11/9/2023; Bị đơn có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án của Tòa án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TA tỉnh Quảng Bình; - VKS huyện Quảng Ninh; - THADS huyện Quảng Ninh. - UBND xã Hiền Ninh; - Các đương sự - Lưu HS, VP TA. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Châu Mạnh Cường |