- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Kim O, chị Trần Thị Kim O được ly hôn anh Dương Nghĩa N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2023/HNGĐ-ST Ngày 14 tháng 9 năm 2023 “V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Soái.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thế Chiến và ông Vũ Kim Quy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Bảo Thụy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana tham gia phiên tòa: bà HĐơk Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2023, tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Krông Ana xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 91/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Kim O, sinh năm 2001.
Trú tại: Thôn T, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Dương Nghĩa N, sinh năm 2000.
HKTT: Thôn H, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Hiện đang chấp hành án tại trại giam Đ1. Địa chỉ: Thôn F, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Đề nghị xét xử vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai nguyên đơn chị Trần Thị Kim O trình bày: Tôi và anh Dương Nghĩa N cưới nhau theo phong tục tập quán và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 22/06/2020 tại Ủy Ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian, đến tháng 01/2021 thì phát sinh nhiều mâu thuẩn. Do bất đồng quan điểm và lối sống nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi và, to tiếng với nhau. Đến ngày 26/04/2021 anh N bị tạm giam và đi chấp hành án tại trại giam Đ1 cho đến nay. Tôi nhận thấy, cuộc sống hôn nhân của chúng tôi không hạnh phúc. Mục đích hôn nhân không đạt được. Tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Đời sống chung không thể duy trì. Do đó tôi xin được ly hôn với anh Dương Nghĩa N.
Về con chung: Chúng tôi có hai con chung là Dương Trần Bảo N1, sinh ngày 07/5/2019 và Dương Nghĩa Đ, sinh ngày 10/10/2021.
Khi ly hôn tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung. Tôi không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chúng tôi không có tài sản chung.
Về nợ chung: Chúng tôi không có nợ chung.
Tại bản tự khai bị đơn anh Dương Nghĩa N trình bày:
Tôi kết hôn với chị Trần Thị Kim O trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 22/06/2020 tại Ủy Ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2021 khi tôi chấp hành án tại trại giam Đ1 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Nay chị O làm đơn ly hôn thì nguyện vọng của tôi xin được ly hôn với chị O.
Về con chung: Chúng tôi có hai con chung là Dương Trần Bảo N1, sinh ngày 07/5/2019 và Dương Nghĩa Đ, sinh ngày 10/10/2021.
Khi ly hôn nguyện vọng của tôi là giao hai cháu N1 và Đ cho chị O nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Tôi không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hiện nay tôi đang chấp hành án nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt tôi theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa đại diện VKSND huyện Krông Ana phát biểu ý kiến: Tòa án xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp là“Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Bị đơn cư trú tại huyện K nên Toà án nhân dân huyện Krông Ana thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử trong thời hạn luật định, đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tư cách tham gia tố tụng: Xác định nguyên đơn chị Trần Thị Kim O, bị đơn anh Dương Nghĩa N là đúng quy định tại Điều 68 BLTTDS.
Về thu thập chứng cứ Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ đúng theo quy định tại Điều 97 BLTTDS.
Việc tuân thủ pháp luật tố tụng của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình và khoản 4 Điều 147 BLTTDS, cho chị Trần Thị Kim O ly hôn anh Dương Nghĩa N.
Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Kim O được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu Dương Trần Bảo N1, sinh ngày 07/5/2019 và Dương Nghĩa Đ, sinh ngày 10/10/2021 cho đến tuổi trưởng thành. Chị O không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không giải quyết.
Về án phí: Chị O phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Trần Thị Kim O có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn anh Dương Nghĩa N đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Kim O và anh Dương Nghĩa N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký ngày 22/06/2020 tại Ủy Ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Sau khi kết hôn chị O, anh N chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp. Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương cung cấp: Vợ chồng chị O, anh N thường xuyên cãi vả nhau, đã ly thân từ năm 2021 đến nay.
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị O đã trầm trọng và kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Cần áp dụng Điều 56 luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Kim O là phù hợp.
Về con chung: Chị O và anh N có hai con chung là Dương Trần Bảo N1, sinh ngày 07/5/2019 và Dương Nghĩa Đ, sinh ngày 10/10/2021.
Hiện nay, cả hai cháu đang còn nhỏ và ở với mẹ, các đương sự đều thống nhất giao hai cháu cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Trần Thị Kim O giao cháu N1 và cháu Đ cho chị O nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án phân chia nên không đề cập giải quyết.
Về án phí: Chị O phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 238; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Kim O, chị Trần Thị Kim O được ly hôn anh Dương Nghĩa N.
[2]Về con chung:
Giao cho chị Trần Thị Kim O được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con chung là cháu Dương Trần Bảo N1, sinh ngày 07/5/2019 và Dương Nghĩa Đ, sinh ngày 10/10/2021 cho đến khi đủ tuổi trưởng thành.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về án phí: Chị Trần Thị Kim O phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Ana theo biên lại thu tiền số: 15443 ngày 11 tháng 5 năm 2023.
Anh Dương Nghĩa N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKS huyện; - Chi cục THADS; - UBND xã Ea Bông; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Hữu Soái |