vanban.org

Bản án 20/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: xử cho ly hôn giữa chị Quách Thị Th và anh Nguyễn Viết T.

Về nuôi con chung: giao cho chị Quách Thị Th trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Viết Th, sinh ngày 10-8-2012. Anh T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Th. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về chia tài sản: chị Th, anh T không yêu cầu T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Th và anh T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: xử cho ly hôn giữa chị Quách Thị Th và anh Nguyễn Viết T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯNG HÀ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 02-3-2023
V/v: Ly hôn giữa
chị Th và anh T

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Thị Chuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Bể

2. Bà Quách Thị Anh Thơ

- Thư ký phiên toà: bà Doãn Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Hà Giang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 334/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXX-ST ngày 09 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Quách Thị Th, sinh năm 1992; có đơn xin xử vắng mặt.

2. Bị đơn: anh Nguyễn Viết T, sinh năm 1993; có đơn xin xử vắng mặt.

Đều ở địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 30-8-2022; bản tự khai ngày và đơn đề nghị, nguyên đơn chị Quách Thị Th trình bày:

Về hôn nhân: chị kết hôn với anh Nguyễn Viết T do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (viết tắt UBND) xã Đ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình vào ngày 01-10-2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận đến đầu năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng xảy ra va chạm cãi nhau. Đến cuối năm 2017, chị phát hiện anh T có quan hệ với người phụ nữ khác, chị và gia đình đã khuyên bảo anh T và cho anh T cơ hội để vợ chồng đoàn tụ, nhưng đến năm 2019, anh T không thay đổi nên chị đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Đến năm 2022, chị tiếp tục cho anh T cơ hội, vợ chồng về chung sống với nhau nhưng chỉ được thời gian ngắn, anh T không thay đổi vẫn chứng nào tật ấy nên vợ chồng sống ly thân từ tháng 10 năm 2022 đến nay. Nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh T.

Về nuôi con chung: chị và anh T có 01 con chung là Nguyễn Viết Th, sinh ngày 10-8-2012. Khi ly hôn, chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Th, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về chia tài sản: vợ chồng chị không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vì công việc bận nên chị không thể đến Tòa án để tham gia phiên tòa xét xử vụ án được, đề nghị Tòa án cho chị được vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 06-01-2023và đơn đề nghị, bị đơn anh Nguyễn Viết T trình bày: anh và chị Quách Thị Th kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình vào ngày 01-10-2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng xảy ra va chạm đánh cãi nhau. Mâu thuẫn căng thẳng, vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Nay chị Th có đơn khởi kiện ly hôn, anh không đồng ý vì anh không muốn con thiếu tình cảm của bố mẹ, anh đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Nếu chị Th cương quyết ly hôn, anh đành chấp nhận.

Về nuôi con chung: anh và chị Th có 01 con chung là Nguyễn Viết Th, sinh ngày 10-8-2012. Nếu ly hôn, anh tôn trọng nguyện vọng của con, con muốn ở với ai thì người đó có trách nhiệm nuôi dưỡng.

Về chia tài sản: vợ chồng không có tài sản chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vì công việc bận nên anh xin vắng mặt tại các lần triệu tập, phiên hòa giải và phiên tòa xét xử vụ án.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 09-02-2023, cháu Nguyễn Viết Th là con chung của chị Th và anh T trình bày: nếu bố mẹ cháu ly hôn, nguyện vọng của cháu là được ở với mẹ.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà phát biểu ý kiến: về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Toà án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Về hôn nhân: xử cho chị Quách Thị Th được ly hôn anh Nguyễn Viết T; về nuôi con chung: chị Th và anh T có 01 con chung là Nguyễn Viết Th, sinh ngày 10-8-2012. Giao cháu Th cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị Th; về chia tài sản: chị Th, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết; về án phí: chị Th phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: chị Quách Thị Th khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung với anh Nguyễn Viết T. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên được xác định là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Anh T đang cư trú tại thôn Đồng Phú, xã Đông Đ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, chị Th có đơn xin xử vắng mặt, anh T có đơn vắng mặt tại phiên hòa giải và phiên tòa xét xử vụ án, vì vậy Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án và quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị Th, anh T theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: chị Quách Thị Th và anh Nguyễn Viết T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ vào ngày 01-10-2012 nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ bất đồng nhau về quan điểm, không có tiếng nói chung, không tin tưởng nhau dẫn đến vợ chồng xảy ra va chạm cãi nhau. Vợ chồng chị Th, anh T đã sống ly thân nhau từ tháng 10-2022. Hội đồng xét xử thấy: vợ chồng chị Th, anh T mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần xử cho chị Th được ly hôn anh T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: chị Th và anh T có 01 con chung là Nguyễn Viết Th, sinh ngày 10-8-2012. Chị Th xin trực tiếp nuôi dưỡng cháu Th và không yêu cầu anh T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng chị Th. Nguyện vọng của cháu Th xin được ở với mẹ. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, Hội đồng xét xử thấy cần giao cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng cháu Th, anh T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng chị Th là phù hợp với quy định tại Điều 81 và Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về chia tài sản: chị Th, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: chị Th phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Từ các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: xử cho ly hôn giữa chị Quách Thị Th và anh Nguyễn Viết T.

2. Về nuôi con chung: giao cho chị Quách Thị Th trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Viết Th, sinh ngày 10-8-2012. Anh T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Th. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về chia tài sản: chị Th, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: chị Quách Thị Th phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đồng chị Th đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0005859 ngày 21-10-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (chị Th đã nộp đủ tiền án phí).

5. Quyền kháng cáo: Chị Th, anh T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND xã Đông Đ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Cỡ chữ