vanban.org

Bản án 20/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Hồ Thị N được ly hôn với anh Trương Văn G.

Về con chung: Giao Trương Hồ Quỳnh A, sinh ngày 16/9/2019 cho anh Trương Văn G trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến khi Quỳnh A thành niên, giao Trương Hồ Quỳnh L, sinh ngày 16/7/2021 cho chị Hồ Thị N nuôi dưỡng đến khi thành niên. Chị Hồ Thị N và anh Trương Văn G không phải cấp d… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồ Thị N - Trương Văn G"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Hồ Thị N được ly hôn với anh Trương Văn G.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 10 – 4 - 2023
V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con
khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hướng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thành Phước.

Ông Đỗ Văn Quân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 73/2022/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 10 năm 2022 về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hồ Thị N, sinh năm 2001. Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

2. Bị đơn: Anh Trương Văn G, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 25/5/2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hồ Thị N trình bày:

Vào tháng 9/2018, chị Hồ Thị N và anh Trương Văn G tự nguyện kết hôn, nhưng đến ngày 12/8/2019 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc đến tháng 12/2021 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, nên vợ chồng sống không còn hạnh phúc. Vợ chồng không còn chung sống từ tháng 02/2022 đến nay. Về con chung: Trong thời gian chung sống chị N và anh G có hai con chung tên Trương Hồ Quỳnh A, sinh ngày 16/9/2019 và Trương Hồ Quỳnh L, sinh ngày 16/7/2021, hiện nay Quỳnh A do anh G nuôi dưỡng, Quỳnh L do chị N nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời gian chung sống chị N và anh G không có tài sản chung và không có nợ chung.

Nay chị N yêu cầu như sau:

- Về hôn nhân: Chị N yêu cầu được ly hôn với anh Trương Văn G.

- Về con chung: Chị N thống nhất giao con chung tên Trương Hồ Quỳnh A, sinh ngày 16/9/2019 cho anh G nuôi dưỡng đến khi thành niên, chị N không cấp dưỡng nuôi Quỳnh A. Chị N yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên Trương Hồ Quỳnh L, sinh ngày 16/7/2021 cho đến khi thành niên, chị N không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi Quỳnh L.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hồ Thị N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Trương Văn G trình bày: Theo nội dung khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Thị N, anh G trình bày ý kiến: Về hôn nhân: Anh G thống nhất ly hôn với chị Hồ Thị N. Về con chung: Trong thời gian chung sống chị N và anh G có 02 con chung tên Trương Hồ Quỳnh A, sinh ngày 16/9/2019 và Trương Hồ Quỳnh L, sinh ngày 16/7/2021, hiện nay Quỳnh A do anh G nuôi dưỡng, Quỳnh L do chị N nuôi dưỡng. Anh G thống nhất nuôi con chung tên Trương Hồ Quỳnh A, sinh ngày 16/9/2019 cho đến khi thành niên, anh G không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi Quỳnh A. Anh G thống nhất giao con chung tên Trương Hồ Quỳnh L, sinh ngày 16/7/2021 cho chị N nuôi dưỡng đến khi thành niên, anh G không cấp dưỡng nuôi Quỳnh L. Về tài sản chung: Không, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn. Về con chung: Giao con chung tên Trương Hồ Quỳnh A, sinh ngày 16/9/2019 cho anh G nuôi dưỡng đến khi thành niên, chị N không cấp dưỡng nuôi Quỳnh A; giao con chung tên Trương Hồ Quỳnh L, sinh ngày 16/7/2021 cho chị N nuôi dưỡng đến khi thành niên, anh G không cấp dưỡng nuôi Quỳnh L. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, theo phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng, người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 25/5/2022, chị Hồ Thị N khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Trương Văn G có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện C thụ lý giải quyết theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.

Về xét xử vắng mặt đối với đương sự: Bị đơn anh Trương Văn G vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do khi đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 3 Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về hôn nhân nhân: Chị Hồ Thị N và anh Trương Văn G kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình, chị N và anh G có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân của chị N và anh G là hợp pháp. Sau khi kết hôn chị N và anh G chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến nên cuộc sống không còn hạnh phúc và vợ chồng không còn sống chung từ năm 2022. Từ khi không sống chung đến nay chị N có gặp anh G để bàn bạc hàn gắn lại tình cảm nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng.

Xét thấy, chị N chủ động gặp anh G để hàn gắn tình cảm nhưng không hàn gắn được, hiện nay hôn nhân của chị N và anh G đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên chị N và anh G không còn khả năng đoàn tụ. Vì vậy, chị N yêu cầu được ly hôn với anh G là có cơ sở và phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ con chung: Trong thời gian chung sống chị Hồ Thị N và anh Trương Văn G có hai con chung tên Trương Hồ Quỳnh A, sinh ngày 16/9/2019 và Trương Hồ Quỳnh L, sinh ngày 16/7/2021. Hiện nay Quỳnh A do anh G nuôi dưỡng, Quỳnh L đang sống với chị N.

Xét yêu cầu của chị Hồ Thị N thống nhất giao con chung tên Trương Hồ Quỳnh A, sinh ngày 16/9/2019 cho anh Trương Văn G nuôi dưỡng đến khi thành niên; chị N yêu cầu nuôi con chung tên Trương Hồ Quỳnh L, sinh ngày 16/7/2021 cho đến khi thành niên. Qua ý kiến trình bày của anh Trương Văn G thống nhất với yêu cầu của chị N. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao Trương Hồ Quỳnh A, sinh ngày 16/9/2019 cho anh Trương Văn G nuôi dưỡng đến khi thành niên; giao Trương Hồ Quỳnh L, sinh ngày 16/7/2021 cho chị Hồ Thị N nuôi dưỡng đến khi thành niên.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Hồ Thị N và anh Trương Văn G không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Hồ Thị N và anh Trương Văn G xác định không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án do đó trong vụ án hôn nhân và gia đình nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Vì vậy chị Hồ Thị N chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình. Anh Trương Văn G không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, koanr 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Hồ Thị N được ly hôn với anh Trương Văn G.

2. Về con chung: Giao Trương Hồ Quỳnh A, sinh ngày 16/9/2019 cho anh Trương Văn G trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến khi Quỳnh A thành niên, giao Trương Hồ Quỳnh L, sinh ngày 16/7/2021 cho chị Hồ Thị N nuôi dưỡng đến khi thành niên. Chị Hồ Thị N và anh Trương Văn G không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Trương Hồ Quỳnh A và Trương Hồ Quỳnh L cho chị N và anh G, không ai được cản trở. Chị Hồ Thị N và anh Trương Văn G không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Hồ Thị N và anh Trương Văn G xác định không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về án phí sơ thẩm: Chị Hồ Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004967 ngày 12/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Sóc Trăng như vậy chị Hồ Thị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm; anh Trương Văn G không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Hồ Thị N được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án, anh Trương Văn G được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ