- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Hà D tranh chấp ly hôn, nuôi con chung với anh Lê Minh T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hà D.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2023/HNGĐ-ST Ngày: 06/3/2023 V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Giang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/. Ông Nguyễn Văn Tư.
2/. Bà Trần Thị Cúc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tiểu Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 06 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 517/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2023/QĐST-HNGĐ ngày 16/02/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hà D, sinh năm 1994 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện V1, tỉnh Long An.
2. Bị đơn: Anh Lê Minh T, sinh năm 1992 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hà D trình bày:
Tôi và anh Lê Minh T qua một thời gian quen biết nhau, tìm hiểu nhau khoảng 2-3 năm thì tổ chức đám cưới, được sự đồng ý của gia đình nên tổ chức đám cưới vào năm 2020, chúng tôi có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 83 ngày 11/12/2020. Sau khi kết hôn chúng tôi sinh sống cùng gia đình chồng, thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc và có 01 con chung là cháu Lê Minh Tr, sinh ngày 25/5/2021. Sau khi sinh con thì vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn xuất phát từ việc vợ chồng bất đồng quan điểm nên thường xuyên cãi nhau, anh T không lo làm ăn phụ giúp vợ con, cờ bạc gây nợ nhiều lần. Trong quá trình sống chung vợ chồng thường xuyên cãi nhau làm cho đời sống không hạnh phúc. Sau khi sinh con vào tháng 5/2021 đến nay thì chúng tôi ly thân với nhau. Nay tôi nhận thấy không thể sống chung với nhau nữa nên yêu cầu ly hôn.
Về con chung: Có 01 con chung là cháu Lê Minh Tr, sinh ngày 25/5/2021, ly hôn tôi yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Lê Minh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến và vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Lê Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến dự phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt, chị D có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh T , chị D.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét thấy, theo đơn khởi kiện, chị D yêu cầu được ly hôn với anh Tvà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Chị D, anh Tcó đăng ký kết hôn hợp pháp nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lê Minh T có hộ khẩu thường trú tại xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, chị D, anh Tkết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 83 ngày 11/12/2020 nên quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Chị D trình bày mâu thuẫn gia đình giữa chị và anh Txuất phát từ việc vợ chồng bất đồng quan điểm nên thường xuyên cãi nhau làm cho đời sống vợ chồng không hạnh phúc, anh Tkhông lo làm ăn phụ giúp vợ con, ngoài ra còn cờ bạc gây nợ nhiều lần. Từ tháng 5/2021 đến nay vợ chồng ly thân nhau.
Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án chị D giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh T. Anh T mặc dù đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì về nội dung vụ án và vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng. Chị D và anh T đã ly thân từ tháng 5/2021 cho đến nay, từ khi ly thân đến nay anh chị cũng không có giải pháp nào nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng, điều đó chứng tỏ anh T và chị D đã không còn tha thiết với cuộc sống vợ chồng, mâu thuẫn gia đình đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó yêu cầu ly hôn của chị D là có căn cứ nên được chấp nhận.
[4] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Trong quá trình chung sống, chị D và anh Tcó một con chung là cháu Lê Minh Tr, sinh ngày 25/5/2021. Xét thấy, từ khi chị D và anh T sống ly thân đến nay, chị D là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và hiện nay cháu Lê Minh Tr chưa đủ 36 tháng tuổi cần sự chăm sóc từ mẹ nên cần thiết tiếp tục giao cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về nợ chung và tài sản chung: Chị D và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Chị D phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hà D.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hà D được ly hôn với anh Lê Minh T.
Về con chung: Giao cháu Lê Minh Tr, sinh ngày 25/5/2021 cho chị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh T chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị D chưa yêu cầu.
Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
2. Về án phí: Chị D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị D đã nộp theo biên lai thu số 0016650 ngày 30/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang nên chị D đã thi hành xong án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Hà D, anh Lê Minh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện C; - Chi cục THADS huyện C; - UBND xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Giang |