- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Ph xin ly hôn chị L"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẾN TRE Bản án số: 20/2023/HNGĐ–ST Ngày: 28/02/2023 V/v tranh chấp: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Phạm Quang Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Tuấn Khanh;
Bà Đào Thị Tuyết Mai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thái Dương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Loan – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình Đại xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 509/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2023/QĐXXST–HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Ph, sinh năm: 1985 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Th, xã Th, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Anh Ph có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 16/02/2023
- Bị đơn: Chị L, sinh năm: 1987 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Th, xã Th, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 17/8/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Ph trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Ph và chị L chung sống với nhau vào năm 2008 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào năm 2008 tại UBND xã Thới Thuận, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
Trong thời kỳ hôn nhân anh Ph và chị L chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 01 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tiền bạc kinh tế, thường hay cãi vã, mâu thuẫn. Anh Ph và chị L sống ly thân chấm dứt mọi quan hệ tình cảm vợ chồng từ tháng 01 năm 2022 cho đến nay.
Anh Ph thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa. Vì vậy anh Ph làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh Ph được ly hôn với chị L.
Về con chung: Anh Ph và chị L có con chung tên M, sinh ngày: 14/8/2009. Anh Ph không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Anh Ph không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Anh Ph khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong suốt quá trình tố tụng chị L đều vắng mặt không có lý do mặt dù đã được tòa án triệu tập hợp lệ.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án:
Yêu cầu khởi kiện của anh Ph là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Ph.
Về con chung: anh Ph được tiếp tục nuôi con chung tên M, sinh ngày: 14/8/2009 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Ghi nhận việc anh Ph không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Anh Ph và chị L không tranh chấp nên không xét đến.
Về nợ chung: Anh Ph và chị L khai không có nên không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Trang 2
Về thủ tục tố tụng: Quaù trình giaûi quyeát vuï aùn, bò ñôn chị L ñaõ ñöôïc Toøa aùn trieäu taäp hôïp leä ñeán laàn thöù hai ñeå xeùt xöû, nhöng chị L vaãn vaéng maët khoâng coù lyù do. Anh Ph có đơn xin xét xử vắng mặt. Do ñoù, Toøa aùn xeùt xöû vaéng maët chị L, anh Ph laø phuø hôïp quy ñònh taïi Ñieàu 227, khoản 1, 3 Điều 228 Boä luaät Toá tuïng Daân sö.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Anh Ph khởi kiện yêu cầu xin được ly hôn với chị L, yêu cầu nuôi con chung. Do đó quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Theo xác nhận ngày 17/8/2022 của Công an xã Thới Thuận, huyện Bình Đại. Chị L có đăng ký thường trú tại: Ấp Th, xã Th, huyện B, tỉnh Bến Tre và hiện đang sinh sống tại địa phương. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Ph và chị L chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 64/2008 ngày 20/10/2008 do Ủy ban nhân dân xã Thới Thuận, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre cấp. Do đó quan hệ hôn nhân giữa anh Ph và chị L là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Trong thời kỳ hôn nhân do hai bên bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến mâu thuẫn, mất lòng tin với nhau, sự việc được gia đình hai bên hòa giải khuyên ngăn nhưng anh Ph và chị L vẫn sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay vẫn không hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tổ chức hòa giải để tạo điều kiện cho anh Ph và chị L hàn gắn tính cảm nhưng anh Ph vẫn kiên quyết xin ly hôn chị L đều vắng mặt trong các lần hòa giải. Điều đó chứng tỏ chị L đã không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân này và mâu thuẩn hai bên đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Từ những nhận định nêu trên, căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Ph đối với chị L.
Về con chung: anh Ph yêu cầu nuôi con chung M, sinh ngày: 14/8/2009. Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay cháu M sống chung với anh Ph vẫn phát triển bình thường mặt khác cháu M có nguyện vọng sống chung với anh Ph. Do đó, giao con chung cho anh Ph tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận việc anh Ph không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Trang 3
Về tài sản chung: Anh Ph và chị L không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên ghi nhận. Nếu sau này chị Kiều có tranh chấp thì giải quyết bằng vụ án khác.
Về nợ chung: Anh Ph khai không có nên ghi nhận.
Đối với lời phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình: Buộc anh Ph phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Điều 51, 56, 80, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Ph đối với chị L. Anh Ph được ly hôn với chị L.
[2] Về con chung: Giao con chung tên M, sinh ngày: 14/8/2009 cho anh Ph trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.
Ghi nhận sự tự nguyện của anh Ph không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.
Chị L không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Anh Ph trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở chị L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con.
[3] Về tài sản chung: Anh Ph và chị L không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên ghi nhận.
[4] Về nợ chung: Anh Ph khai không có nên không xét đến, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên ghi nhận.
Trang 4
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình: Buộc anh Ph phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh Ph đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số: 0009443 ngày 05/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại. Anh Ph đã nộp đủ án phí.
[6] Về quyền kháng cáo:
Anh Ph, chị L có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân tỉnh Bến Tre giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - UBND xã Thới Thuận (số 64 quyển 1/2008); - VKSND huyện Bình Đại; - Chi cục THAD huyện Bình Đại; - TAND tỉnh Bến Tre (P.KTNV & THA); - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Bùi Tuấn Khanh Đào Thị Tuyết Mai Trang 5 THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ ...................................... ........................................... Trang 6 Trang 7 Trang 8 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Quang Hải THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Quang Hải THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Quang Hải |