- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Khuyên - Nguyễn Quang Huấn"
- Tòa quyết gì? Xử cho chị Phạm Thị Kh ly hôn với anh Nguyễn Quang Huấn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG TỈNH LÀO CAI Bản án số: 20/2023/HNGĐ-ST |
Ngày 23 - 5 - 2023 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lìn Thị Lài.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Triệu Thị Phấy.
2. Ông Lê Xuân Cương.
Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Thanh Tuyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
Ngày 23 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 29/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2023/QĐST - HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Kh - Sinh năm 1979.
Địa chỉ: TDP số 4, thị trấn Tằng Lỏng, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai - (Vắng mặt có mặt đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Quang Huấn - Sinh năm 1974.
Địa chỉ: TDP số 4, thị trấn Tằng Lỏng, huyện Bảo Thắng, Lào Cai - (vắng mặt lần 2 không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20/02/2023 và bản tự khai ngày 27/02/2023, chị Phạm Thị Kh trình bầy: Chị và anh Nguyễn Quang Huấn kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 01/6/2004, tại UBND thị trấn Tằng Loỏng, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Sau kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, xuất phát từ đó vợ chồng thường xuyên xẩy ra cãi nhau. Khi mâu thuẫn xẩy ra vợ chồng chị đã nhiều lần nói chuyện để tìm cách khắc phục mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Tháng 8 năm 2022 chị đã nộp đơn khởi kiện xin ly hôn anh Huấn tại Tòa án, được Tòa án hòa giải nên chị đã rút đơn để vợ chồng đoàn tụ với mong muốn anh Huấn thay đổi; tuy nhiên sau khi chị rút đơn về anh Huẫn vẫn không thay đổi mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Quang Huấn.
Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh Huấn có hai con chung là cháu Nguyễn Quang Huy, sinh ngày 23/7/1998 và cháu Nguyễn Hồng Hải, sinh ngày 09/10/2005, hiện nay các cháu đều khỏe mạnh phát triển bình thường, cháu Huy đã trưởng thành, khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn cháu Hải đang ở cùng vợ chồng chị, khi ly hôn chị có nguyện vọng được trục tiếp nuôi cháu Hải, chị không yêu cầu anh Huấn cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung: Vợ chồng chị thỏa thuận tự chia, khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ gì, khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai của anh Nguyễn Quang Huấn (Bị đơn) ghi ngày 03/3/2023 anh Huấn trình bầy: Về thời gian đăng ký kết hôn như chị Khuyên trình bày là đúng. Theo anh vợ chồng anh sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 có xẩy ra mâu thuẫn nhỏ, thực tế vợ chồng vẫn sống chung cùng nhà. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn nên anh không nhất trí ly hôn với chị Khuyên.
Về con chung: Quá trình chung sống anh và chị Khuyên có hai con chung là cháu Nguyễn Quang Huy, sinh ngày 23/7/1998 và cháu Nguyễn Hồng Hải, sinh ngày 09/10/2005, hiện nay các cháu đều khỏe mạnh phát triển bình thường, cháu Huy đã trưởng thành, còn cháu Hải đang ở cùng anh chị, anh không nhất trí ly hôn nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi dưỡng chăm sóc con chung.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ gì
Đối với vụ án này Toà án đã mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải về quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng chăm sóc con chung nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Phạm Thị Kh khởi kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Quang Huấn đảm bảo điều kiện theo quy định của pháp luật, chị Khuyên và anh Huấn đều có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố số 4, thị trấn Tằng Loỏng, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Vì vậy đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Kh và anh Nguyễn Quang Huấn có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, vì vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, xuất phát từ đó vợ chồng thường xuyên xẩy ra cãi nhau. Khi mâu thuẫn xẩy ra vợ chồng anh chị đã nhiều lần nói chuyện để tìm cách khắc phục mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Tháng 8 năm 2022 chị Khuyên đã nộp đơn khởi kiện xin ly hôn anh Huấn tại Tòa án, được Tòa án hòa giải nên chị Khuyên đã rút đơn để vợ chồng đoàn tụ với mong muốn anh Huấn thay đổi; tuy nhiên sau khi chị Khuyên rút đơn về vợ chồng anh chị vẫn không khắc phục được mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn.
Tại phiên toà hôm nay chị Phạm Thị Kh vắng mặt chị đã có đơn xin xét xử vắng mặt, tại đơn xin xét xử vắng mặt chị giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh Nguyễn Quang Huấn.
Đối với anh Nguyễn Quang Huấn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, trong quá trình giải quyết vụ án, thì anh Huấn không nhất trí ly hôn với chị Khuyên, vì tình cảm vợ chồng vẫn còn.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã hòa giải nhiều lần về quan hệ hôn nhân nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau; mặt khác chị Khuyên đã chứng minh mâu thuẫn của vợ chồng được chính quyền địa phương xác nhận. Vì vậy xét yêu cầu xin ly hôn của chị Khuyên là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị Phạm Thị Kh và anh Nguyễn Quang Huấn có hai con chung, cháu Nguyễn Quang Huy, sinh ngày 23/7/1998 và cháu Nguyễn Hồng Hải, sinh ngày 09/10/2005, hiện nay các cháu đều khỏe mạnh phát triển bình thường, cháu Huy đã trưởng thành, khi ly hôn chị Khuyên không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn cháu Hải đang ở cùng vợ chồng chị.
Tại phiên tòa hôm nay chị Phạm Thị Kh có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đơn xin xét xử vắng mặt cũng như trong quá trình giải quyết vụ án chị Khuyên có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hồng Hải, chị không yêu cầu anh Huấn cấp dưỡng tiền nuôi con chung, chị Khuyên chứng minh hiện nay chị làm tự do thu nhập bình quân khoảng 10.000.000đồng, được chính quyền địa phương xác nhận.
Đối với anh Nguyễn Quang Huấn vắng mặt tại phiên tòa, trong quá trình giải quyết vụ án thì anh xin đoàn tụ nên anh không yêu cầu giải quyết việc nuôi dưỡng chăm sóc con chung. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã ghi ý kiến của người chưa thành niên đối với cháu Nguyễn Hồng Hải thì cháu có nguyện vọng được chị Khuyên trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy xét yêu cầu xin được trực tiếp nuôi con của chị Khuyên xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hải là có căn cứ, phù hợp với nguyện vọng của cháu Hải, nên HĐXX cần chấp nhận giao cháu Nguyễn Hồng Hải cho chị Khuyên trực tiếp nuôi dưỡng, chị Khuyên không yêu cầu anh Huấn cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung: Chị Khuyên và anh Huấn không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy HĐXX không xem xét giải quyết.
Về công nợ chung: Chị Khuyên và anh Huấn xác nhận vợ chồng chị không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ gì, khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Xử cho chị Phạm Thị Kh ly hôn với anh Nguyễn Quang Huấn.
2. Về con chung: Xử giao cháu Nguyễn Hồng Hải, sinh ngày 09/10/2005, cho chị Phạm Thị Kh trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi; anh Huấn không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Quang Huấn có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Phạm Thị Kh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0003217 ngày 27/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; Chị Khuyên đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt các đương sự; các đương có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện Bảo Thắng (2); - THADS huyện Bảo Thắng (2); - UBND thị trấn Tằng Loỏng; - Đương sự (02); - Lưu HS, TA, VP . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lìn Thị Lài |