vanban.org

Bản án 20/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị L.

Về quan hệ hôn nhân: Giải quyết cho chị Phạm Thị L được ly hôn với anh Lâm Ngọc C. Về nuôi con chung: Giao cháu Lâm Th, sinh ngày 22/12/2017 cho chị Phạm Thị L được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh Lâm Ngọc C không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị L-Lâm Ngọc C"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÁC ÁI
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 22 - 9 - 2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁC ÁI, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thiện

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Cadá Thị Lính

2. Bà Mẫu Thị Kim Khanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bác Ái tham gia phiên toà:

Ông Tạ Yên Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2023, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 49/2022/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXX-ST ngày 21 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1978 (Có mặt).

2. Bị đơn: Anh Lâm Ngọc C, sinh năm 1980 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị L trình bày:

Chị và anh Lâm Ngọc C chung sống với nhau có đăng ký kết hôn số 45 ngày 04/12/2017 tại Ủy ban nhân xã P, huyện B, sau đó hai người về làm ăn sinh sống tại thôn T, xã P. Trong cuộc sống gia đình vợ chồng không được hòa thuận nguyên nhân do tính tình không hợp và bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau, hiện nay hai người không còn sống chung và không còn quan tâm gì đến nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, vì vậy chị làm đơn yêu cầu giải quyết được ly hôn với anh C.

Về con chung: Chị L và anh C có chung với nhau một người con là cháu Lâm Th, sinh ngày 22/12/2017, hiện nay cháu Th đang ở cùng với chị L. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn chị xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Th và chị không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Bác Ái đã nhiều lần triệu tập anh Lâm Ngọc C đến Tòa án để giải quyết việc ly hôn với chị L, nhưng anh C vẫn vắng mặt. Từ ngày 20/7/2023 - 21/8/2023 Tòa án huyện Bác Ái đã nhiều lần niêm yết giấy triệu tập, các văn bản tố tụng tại Ủy ban nhân dân xã P và nơi anh C cư trú để anh biết đến Tòa án giải quyết vụ, việc. Mặc dù vẫn có mặt ở địa phương anh C không chấp hành cố tình vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án không lấy được lời khai của anh C và không tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bác Ái phát biểu quan điểm:

Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Phạm Thị L từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Lâm Ngọc C không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt anh C là có căn cứ.

- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, bị đơn anh C đang cư trú tại thôn T, xã P, huyện B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bác Ái theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh Lâm Ngọc C chung sống với nhau có đăng ký kết hôn số 45 ngày 04/12/2017 tại Ủy ban nhân xã P, huyện B, sau đó hai người về làm ăn sinh sống tại thôn T, xã P. Trong cuộc sống gia đình vợ chồng không được hòa thuận nguyên nhân do tính tình không hợp và bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau, hiện nay hai người không còn sống chung và không còn quan tâm gì đến nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng và chị L có yêu cầu ly hôn, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị được ly hôn với anh C.

- Về con chung: Chị L và anh C có một người con chung là cháu Lâm Th, sinh ngày 22/12/2017, hiện nay cháu Th đang ở cùng với chị L, trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa chị L xin được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu Th và không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại các điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Chị Phạm Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị L đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000029 ngày 29/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bác Ái.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về áp dụng pháp luật tố tụng: Ngày 21/6/2023, chị Phạm Thị L làm đơn đến Tòa án huyện Bác Ái yêu cầu giải quyết cho anh được ly hôn với anh Lâm Ngọc C. Hiện nay anh C đang cư trú tại thôn T, xã P, huyện B nên Tòa án huyện Bác Ái áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự để thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Về áp dụng pháp luật nội dung.

2.1.Về quan hệ hôn nhân:

Chị L và anh Lâm Ngọc C chung sống với nhau có đăng ký kết hôn số 45 ngày 04/12/2017 tại Ủy ban nhân xã P, huyện B, sau đó hai người về làm ăn sinh sống tại thôn T, xã P. Trong cuộc sống gia đình vợ chồng không được hòa thuận nguyên nhân do tính tình không hợp và bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau, hiện nay hai người không còn sống chung và không còn quan tâm gì đến nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng và chị L có yêu cầu ly hôn, căn cứ vào quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị được ly hôn với anh C.

2.2.Về nuôi con chung: Chị L và anh C có một người con chung là cháu Lâm Th, sinh ngày 22/12/2017, hiện nay cháu Th đang ở cùng với chị L, trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa chị L xin được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu Th và không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con. Sự tự nguyện nuôi con của chị L là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.

2.3. Về tài sản chung: Không có nên không xét đến.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Chị Phạm Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị L đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000029 ngày 29/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bác Ái.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Giải quyết cho chị Phạm Thị L được ly hôn với anh Lâm Ngọc C.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Lâm Th, sinh ngày 22/12/2017 cho chị Phạm Thị L được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh Lâm Ngọc C không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Chị Phạm Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị L đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000029 ngày 29/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bác Ái, chị L đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (22/9/2023).

Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ