vanban.org

Bản án 20/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 27/01/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Cẩm V

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Ngô Cẩm V được ly hôn anh CHA B. Về con chung: Chị Ngô Cẩm V và anh CHA B không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Cẩm V và CHA B ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Cẩm V
  • Căn cứ chính? Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HNGĐ-ST
Ngày 27-01-2023
V/v ly hôn, xác định cha cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị V Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vinh;

Ông Phạm Mạnh Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Dỏn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 55/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2022 về việc ly hôn, xác định cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 265/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Cẩm V, sinh năm 2000; nơi cư trú: Số 743 phường Đông Hải, tổ dân phố Hạ Đoạn 4, quận Hải An, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;

- Bị đơn: Anh CHA B, sinh năm 1981; nơi cư trú: 34-14, Ogok-gil, Seongsan-myeon, Goryeong-gun, Gyeongsangbuk-do, Hàn Quốc; vắng mặt;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Hữu Hưng, sinh năm 1995; nơi cư trú: Số 6/1B ngõ 325 Tô Hiệu, phường Hồ Nam, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án chị Ngô Cẩm V trình bày:

Chị Ngô Cẩm V kết hôn với anh CHA B trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 29 tháng 01 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn, anh CHA B trở về Hàn Quốc và làm thủ tục để bảo lãnh cho chị V sang Hàn Quốc đoàn tụ. Tuy nhiên chị V cảm thấy vợ chồng có quá nhiều điểm không thể hòa hợp, không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân. Vì vậy, chị V đã không làm thủ tục xin visa sang Hàn Quốc để đoàn tụ. Chị V và anh CHA B đã không còn tình cảm, quan tâm lẫn nhau, hai bên đã không còn liên lạc với nhau từ khi anh CHA B trở về nước cho đến nay. Nay chị V nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh CHA B để mỗi người ổn định cuộc sống mới.

Về con chung và tài sản chung: Chị Ngô Cẩm V và anh CHA B không có con chung và tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong thời gian sống ly thân với anh CHA B, chị Ngô Cẩm V đã chung sống với anh Phạm Hữu Hưng, sinh năm 1995; địa chỉ: Số 6/1B ngõ 325 Tô Hiệu, phường Hồ Nam, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng và sinh được 01 con tên dự định đặt là Phạm Khánh Huyền sinh ngày 20 tháng 10 năm 2021. Vì vậy, chị Ngô Cẩm V đề nghị Tòa án xác định anh Phạm Hữu Hưng, sinh năm 1995; địa chỉ: Số 6/1B ngõ 325 Tô Hiệu, phường Hồ Nam, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng là cha của cháu Phạm Khánh Huyền sinh ngày 20 tháng 10 năm 2021.

- Về bị đơn là anh CHA B: Anh CHA B hiện đang ở Hàn Quốc, sau khi thụ lý, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc để tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo thời gian tiến hành phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo thời gian mở phiên tòa cho anh CHA B. Cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc đã có phản hồi là không tống đạt được văn bản tố tụng cho anh CHA B. Tòa án đã làm thủ tục đăng tải thông tin vụ án trên Cổng thông tin điện tử Tòa án thành phố và Cổng thông tin điện tử của Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Hữu Hưng trình bày: Cuối năm 2020, anh có quan hệ tình cảm với chị Ngô Cẩm V. Sau đó chị V có thai với anh và đến ngày 20 tháng 10 năm 2021 thì sinh được 01 cháu gái dự định đặt tên là Phạm Khánh Huyền. Nay chị V làm đơn xin ly hôn với anh CHA B và đề nghị xác định anh là cha của cháu Phạm Khánh Huyền sinh ngày 20 tháng 10 năm 2021, anh đồng ý.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký về cơ bản đã thực hiện theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử vụ án. Tòa án xét xử vắng mặt chị Ngô Cẩm V và anh CHA B là đúng quy định tại khoản 2 Ðiều 227, khoản 1 Ðiều 228 điểm c khoản 6 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 và khoản 4 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 9, 14, 51, 53, 56, khoản 1 Điều 89 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Cẩm V: Về quan hệ hôn nhân và gia đình, cho chị Ngô Cẩm V được ly hôn anh CHA B; về con chung, chị Ngô Cẩm V và anh CHA B không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết; xác định anh Phạm Hữu Hưng, sinh năm 1995; địa chỉ: Số 6/1B ngõ 325 Tô Hiệu, phường Hồ Nam, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng là cha đẻ của cháu dự định đặt tên Phạm Khánh Huyền sinh ngày 20 tháng 10 năm 2021; về tài sản chung: Chị Ngô Cẩm V không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí và các chi phí khác: Chị Ngô Cẩm V phải chịu án phí, và các chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Chị Ngô Cẩm V có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết việc ly hôn với anh CHA B và đề nghị xác định cha cho con đối với anh Phạm Hữu Hưng. Anh CHA B hiện đều đang cư trú tại Hàn Quốc, chị Ngô Cẩm V và anh Phạm Hữu Hưng hiện cư trú tại thành phố Hải Phòng. Theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 469, Điều 470 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về thủ tục tống đạt cho bị đơn và sự vắng mặt của các đương sự: Theo địa chỉ mà chị Ngô Cẩm V cung cấp, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc để tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh CHA B. Ngày 23 tháng 9 năm 2022, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã nhận được kết quả ủy thác tư pháp chưa tống đạt văn bản được cho anh CHA B. Sau đó, Tòa án đã tiến hành đăng tải thông tin vụ án trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, Cổng thông tin điện tử của Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Hàn Quốc. Tại phiên tòa mở lần thứ nhất vào ngày 26 tháng 12 năm 2022, anh CHA B vắng mặt, không có lý do, nên Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã hoãn phiên tòa, và ấn định ngày mở phiên tòa lần hai vào ngày 25 tháng 01 năm 2023, sau đó có thông báo thay đổi lịch mở phiên tòa lần hai vào ngày 27 tháng 01 năm 2023. Vì vậy, căn cứ điểm c khoản 6 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh CHA B. Nguyên đơn chị Ngô Cẩm V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Hữu Hưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Cẩm V và anh CHA B kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng vào ngày 29 tháng 01 năm 2019. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị Ngô Cẩm V khai nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị và anh CHA B do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không còn tình cảm và yêu thương lẫn nhau, hai bên đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Từ đó giữa chị và anh CHA B không giữ liên lạc với nhau, không còn quan tâm, yêu thương nhau. Như vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị Ngô Cẩm V là chính đáng, cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ngô Cẩm V.

Về con chung: Theo lời khai của chị Ngô Cẩm V giữa chị và anh CHA B không có con chung, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Chị Ngô Cẩm V và anh Phạm Hữu Hưng thống nhất trình bày trong thời kỳ hôn nhân với anh CHA B, chị có quan hệ tình cảm với anh Phạm Hữu Hưng và sinh con dự định đặt tên là Phạm Khánh Huyền vào ngày 20 tháng 10 năm 2021, là con của anh Phạm Hữu Hưng. Theo kết quả phân tích ADN của Công ty Cổ phần dịch vụ Phân tích di truyền thì anh Phạm Hữu Hưng và cháu Phạm Khánh Huyền sinh ngày 20 tháng 10 năm 2021 có quan hệ huyết thống cha - con. Như vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Cẩm V, xác định anh Phạm Hữu Hưng là cha đẻ của cháu tên dự định đặt là Phạm Khánh Huyền, sinh ngày 20 tháng 10 năm 2021.

Về tài sản chung: Chị Ngô Cẩm V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Ngô Cẩm V là nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về phí ủy thác tư pháp: Chị Ngô Cẩm V phải chịu phí ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào 9, 14, 51, 53, 56, khoản 1 Điều 89, khoản 2 Điều 101, khoản 1 Điều 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào khoản 1, khoản 4 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 151, Điều 152, Điều 153, Điều 154, khoản 1 Điều 228, Điều 273, Điều 469, Điều 470, khoản 4 và điểm c khoản 5 Điều 477, khoản 3 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Cẩm V

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Ngô Cẩm V được ly hôn anh CHA B.

2. Về con chung: Chị Ngô Cẩm V và anh CHA B không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

3. Xác định anh Phạm Hữu Hưng, sinh năm 1995; địa chỉ: Số 6/1B ngõ 325 Tô Hiệu, phường Hồ Nam, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng là cha đẻ của cháu dự định đặt tên Phạm Khánh Huyền sinh ngày 20 tháng 10 năm 2021.

4. Về tài sản chung: Chị Ngô Cẩm V không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Ngô Cẩm V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí Tòa án số 0000332 ngày 23 tháng 3 năm 2021 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Ngô Cẩm V đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

6. Về phí ủy thác tư pháp: Chị Ngô Cẩm V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) phí ủy thác tư pháp để tống đạt Văn bản tố tụng của tòa án cho anh CHA B, được trừ số tiền tạm ứng lệ phí 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai số 0000333 ngày 23 tháng 3 năm 2021 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Ngô Cẩm V đã nộp đủ tiền phí ủy thác tư pháp.

Chị Ngô Cẩm V còn phải chịu chi phí ủy thác để tống đạt bản án cho anh CHA B.

7. Về quyền kháng cáo:

Chị Ngô Cẩm V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Anh CHA B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày tuyên án.

8. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014./.

Cỡ chữ