- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Phạm Thị H yêu cầu xin ly hôn với ông Vũ Đình A"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2023/HNGĐ – ST Ngày: 30/6/2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Trí Lý.
- Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tuyết và ông Nguyễn Đình Thanh.
Thư ký phiên toà: Ông Phạm Xuân Quyết – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện EaKar.
- Đại diên Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 30/6/2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 426/2022/TLST - HNGĐ, ngày 14 tháng 10 năm 2022; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 06/6/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Thôn V, xã B, huyện S, Quảng Ngãi. (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Vũ Đình A, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Thôn 8, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Hiện đang chấp hành án tại: Đội 9K2, trại giam C, xã T, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phạm Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông Vũ Đình A sau một thời gian tìm hiểu thì tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 04/01/2016. Trong quá trình chung sống do bất đồng quan điểm, tính cách, lối sống nên vợ chồng xảy ra cãi vả, xúc phạm lẫn nhau. Đến tháng 7/2016 ông A bị bắt và bị xử phạt tù giam về tội vận chuyển trái phép chất ma túy. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Bà H đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với ông A.
Về con chung: Bà H và ông A có một con chung là Vũ Đình C, sinh ngày 29/01/2017. Hiện cháu Vũ Đình C đang sống với Bà H, nên sau ly hôn, Bà H yêu cầu được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông A phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai bị đơn ông Vũ Đình A trình bày: Ông A và Bà H là vợ chồng có đăng ký kết hôn. Nay ông A đồng ý ly hôn với bà H. Ông Au và bà H có một con chung là cháu Vũ Đình C, sinh ngày 29/01/2017, ông A có nguyện vọng giao con chung cho bố mẹ ông A nuôi dưỡng vì hiện nay ông A đang phải chấp hành án phạt tù.
Về tài sản chung, công nợ: Ông A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar tham gia phiên tòa:
Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã ban hành các quyết định, cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự đúng quy định. Thành phần Hội đồng xét xử đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật; Qúa trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56 Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho bà Phạm Thị H được ly hôn với ông Vũ Đình A.
- Về con chung: Giao con chung cháu Vũ Đình C, sinh ngày 29/01/2017 cho Bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng, các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết.
Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết về án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà Phạm Thị H có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ea Kar giải quyết việc hôn nhân, con chung với bị đơn ông Vũ Đình A, đơn khởi kiện của Bà H được Tòa án nhân dân huyện Ea Kar xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung”, được quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar.
Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị H và ông Vũ Đình A tự nguyện về sống chung, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 04/01/2016, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình sống chung hai vợ chồng sống hạnh phúc, đến tháng 7/2016 ông A bị bắt và chấp hành án phạt tù cho đến nay. Xét, nguyện vọng về hôn nhân, ông A, bà H đồng ý ly hôn, đây là thỏa thuận tự nguyện phù hợp với quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, công nhận bà Phạm Thị Hvà ông Vũ Đình A thuận tình ly hôn.
Về con chung: Bà H, ông A có một con chung là cháu Vũ Đình C, sinh ngày 29/01/2017. Xét thấy, từ thời điểm tháng 7/2016 cho đến nay ông A đi chấp hành án tại trại giam C nên cháu C được bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh về tâm, sinh lý, cũng như để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, căn cứ Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu Vũ Đình C, sinh ngày 29/01/2017 cho Bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi, đồng thời không chấp nhận nguyện vọng của ông A là giao con chung cho bố mẹ đẻ của ông A trực tiếp chăm sóc.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà H không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết
Về tài sản chung và công nợ: Đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.
Về án phí: Bà Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 203, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, và Điều 266 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ Điều 55, Điều 57, Điều 81, 82 và Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H.
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị H và ông Vũ Đình A thuận tình ly hôn.
[2]. Về con chung: Giao con chung cháu Vũ Đình C, sinh ngày 29/01/2017 cho bà Phạm Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu nên không giải quyết.
Ông Vũ Đình A được quyền đi lại thăm nom con chung và không ai được cản trở. Tuy nhiên, ông A không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết, các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung.
[3]. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không giải quyết.
[4]. Về án phí: Bà Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2021/0020246, ngày 11 tháng 10 năm 2022, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
[5]. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./
| Nơi nhận - TAND tỉnh Đắk Lắk - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện EaKar; - Chi cục THADS huyện K; - UBND xã N, huyện K; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ t a phiên tòa (Đã ký) Hoàng Trí Lý |