- Tranh chấp gì? Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp — án lao động — "Tranh chấp về bảo hiểm xã hội"
- Tòa quyết gì? Điểm d khoản 1 Điều 32; điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
- Căn cứ chính? Điều 89 Luật bảo hiểm xã hội; Nghị định số 204/2004/NĐ-CP Về chế độ tiền lương đối với cán…; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2022/LĐ-ST Ngày: 22 - 8 - 2022 “V/v: tranh chấp về bảo hiểm xã hội” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T – THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thanh Trang;
2. Bà Phạm Thị Nhung.
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Duy - Thư ký Tòa án nhân dân quận T,
Thành phố H;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, Thành phố H tham gia phiên tòa: bà
Đặng Thị Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H
xét xử sơ thẩm công khai vụ án Lao động sơ thẩm thụ lý số 07/2021/TLST-LĐ ngày 15 tháng 12 năm 2021 về việc: “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 524/2022/QĐXXST-LĐ ngày 05/8/2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1973 (có mặt)
Địa chỉ: 35 đường 443, Tổ 101, ấp B, xã PD, huyện C, Tp. HCM.
- Bị đơn: Trung Tâm Thể Thao Công An Thành Phố H.
Địa chỉ: 96 HB, phường P, quận T, Tp. HCM.
- Người đại diện theo pháp luật: ông Bùi Tuấn A, sinh năm 1971, cấp bậc:
Trung tá – Giám đốc Trung tâm Thể Thao Công An Thành Phố H (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn
ông Nguyễn Văn S trình bày:
Ông là nhân viên hợp đồng không xác định thời hạn từ năm 1999 đến tháng
10/2020 tại Trung Tâm Thể Thao Công An Thành Phố H, ngày 01/9/2020 ông nhận được thông báo chấm dứt hợp đồng lao động và nhận thấy bảo hiểm xã hội (BHXH) của ông thì Trung Tâm Thể Thao Công An Thành Phố H chỉ đóng 50% mức lương thực lãnh.
Ngày 04/11/2020 ông làm đơn kiến nghị yêu cầu lãnh đạo Trung Tâm Thể Thao
Công An Thành Phố H phải thực hiện truy đóng BHXH kể từ năm 1999 đến khi hoàn thiện việc truy đóng BHXH đầy đủ, theo quy định pháp luật trước khi ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông.
Ngày 05/12/2020, Trung Tâm Thể Thao Công An Thành Phố H trả lời đơn kiến
nghị của ông là khoản tiền phụ cấp theo lương của ông không thuộc các khoản thu nhập bắt buộc phải đóng BHXH.
Xét thấy cách tính đóng BHXH của Trung Tâm Thể Thao Công An Thành Phố
H không đảm bảo quyền lợi người lao động, chưa thỏa đáng, chưa đúng quy định của pháp luật. Bởi lẽ, căn cứ khoản 2 Điều 89 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 là tiền lương và phụ cấp lương bắt buộc phải đóng bảo hiểm xã hội. Ông được hưởng lương tháng theo cách tính là hệ số lương nhân với mức lương cơ bản nhân hệ số K và ông được lĩnh thông suốt lien tục hành tháng từ năm 1999 đến tháng 11/2020.
Nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Trung Tâm Thể Thao Công An Thành
Phố H truy đóng đủ BHXH từ năm 1999 đến khi có quyết định chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông.
Tại văn bản số 18/TTTT-TH ngày 25/01/2022 về việc trao đổi nội dung khiếu
kiện theo đơn khỏi kiện của ông Nguyễn Văn S, các lần hòa giải và tại phiên tòa bị đơn Trung Tâm Thể Thao Công An Thành Phố H có ông Phạm Minh N là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Trung tâm Thể Thao Công An Thành Phố H là đơn vị sự nghiệp công lập có thu
loại 3 trong Công an nhân dân (Là đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo một phần chi thường xuyên). Do đó, kể từ khi thành lập cho đến nay, người lao động hợp đồng của Trung tâm thể thao là đối tượng được thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định (hưởng lương theo hệ số, ngạch, bậc theo quy định tại Nghị Định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính Phủ).
Bên cạnh đó, để bảo đảm chăm lo tốt hơn các chế độ cho người lao động, hành
tháng căn cứ tình hình kinh doanh, Trung tâm đã chủ động cân đối các khoản chi phí và phân bổ các nguồn quỹ để chi thêm hệ số điều chỉnh nhằm tăng thêm thu nhập cho các trường hợp trên. Căn cứ khoản 1 Điều 89 Luật bảo hiểm xã hội quy định về tiền lương tháng đóng BHXH (Bảo hiểm xã hội) bắt buộc thì khoản thu nhập tăng thêm ở trên không phải là khoản phụ cấp phải đóng BHXH bắt buộc.
Do đó, Trung tâm thể thao thực hiện việc đóng BHXH bắt buộc đối với anh S
nói riêng và các trường hợp người lao động khác nói chung trên cơ sở tiền lương chính theo hệ số, ngạch, bậc là đúng Luật BHXH đối với các đối tượng hưởng lương theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định. Ngoài ra, việc đóng BHXH đối với người lao động của đơn vị cũng đã được Cơ quan BHXH Công an nhân dân thống nhất thực hiện trên cơ sở đảm bảo các quy định của Luật BHXH.
Trung tâm Thể Thao Công An Thành Phố H đã thực hiện đóng bảo hiểm xã hội
và bảo hiểm thất nghiệp đầy đủ cho ông Nguyễn Văn S và Bảo hiểm xã hội Công an nhân dân đã thực hiện bảo lưu, chốt sổ BHXH đối với ông Nguyễn Văn S theo đúng quy định của pháp luật.
Vì vậy, Trung tâm Thể Thao Công An Thành Phố H không đồng ý yêu cầu khởi
kiện của ông S.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T tham gia phiên tòa phát biểu
ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa
và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét đơn khởi kiện của đơn ông Nguyễn Văn S yêu cầu Trung tâm Thể Thao Công
An Thành Phố H truy đóng BHXH, đây là tranh chấp về BHXH theo quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 32 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Do bị đơn Trung tâm Thể Thao Công An Thành Phố H có trụ sở tại quận T nên
căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H.
Về nội dung tranh chấp:
Xét ông Nguyễn Văn S làm việc tại Trung tâm Thể thao Công an Thành phố H
theo Hợp đồng lao động ngày 01/10/2005, sau khi hết thời hạn hợp đồng thì ông S tiếp tục làm việc tại Trung tâm với hình thức là hợp đồng không xác định thời hạn. Nhiệm vụ của ông S là quản lý sân quần vợt, thu tiền khách hàng sau đó làm đề xuất nộp về Trung tâm. Ngày 30/10/2020, Trung tâm đã ban hành Quyết định về việc chấm dứt Hợp đồng lao động số 102/QĐ-TTTT với ông S.
Trung tâm thể thao Công an Thành phố H là đơn vị sự nghiệp công lập có thu
trong Công an nhân dân, vậy người lao động hợp đồng của Trung tâm thể thao là đối tượng được thực hiện chế độ tiền lương theo hệ số, ngạch, bậc quy định tại Nghị định số 204/2004/NĐ-CP, ngày 12/12/2004 của Chính phủ. Vì ông Nguyễn Văn S là nhân viên hợp đồng không xác định thời hạn của Trung tâm nên chế độ tiền lương theo hệ số, ngạch, bậc sẽ thuộc đối tượng điều chỉnh của Nghị định số 204/2004/NĐ-CP, ngày 12/12/2004 của Chính phủ.
Theo Quyết định số 79/QĐ-TTTT-TH ngày 31/8/2020 của phòng PX03 Trung
tâm thể thao về việc truy nâng lương niên hạn đối với người lao động thì ông S chỉ được nâng hệ số lương chứ không được hưởng phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên, nên Trung tâm thể thao đã đóng bảo hiểm xã hội cho ông Nguyễn Văn S theo hệ số lương là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 89 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, cụ thể như sau: "Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là tiền lương theo ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có)".
Theo văn bản số 3422/BHXH-CAND ngày 13/7/2022 của Bảo hiểm xã hội Công
an nhân dân và Bản án phúc thẩm số 270/2018/LĐ-PT ngày 12/3/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố H (đã có hiệu lực) là cách tính bảo hiểm xã hội dựa trên hệ số lương chứ không phải dựa trên mức lương và phụ cấp lương theo khoản 2 Điều 89 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 như yêu cầu của ông Nguyễn Văn S.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn S.
Án phí lao động sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn S được miễn nộp án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm d khoản 1 Điều 32; điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
Điều 68, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 207, điềm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Nghị định số 204/2004/NĐ-CP, ngày 12/12/2004 của Chính phủ;
- Điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Điều 15, Điều 16, Điều 22, Điều 186 Bộ luật Lao động năm 2012;
- Điều 2; khoản 1 Điều 89 luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.
Tuyên xử:
1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S về việc:
yêu cầu Trung Tâm Thể Thao Công An Thành Phố H truy đóng đủ Bảo hiểm xã hội từ năm 1999 đến khi có quyết định chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông.
2. Về án phí lao động sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn S được miễn nộp án phí Lao
động sơ thẩm.
3.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn được quyền kháng cáo Bản án
trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Đức Thành
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND quận T; - Chi cục THADS quận T; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Thành |