vanban.org

Bản án 20/2022/HSST — Hình sự

TAND TX. Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 31/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn H 39 (ba mươi chín) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "H phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn H 39 (ba mươi chín) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHÚ THỌ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20 /2022/HSST
Ngày 31 tháng 5 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc H

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Khổng Đăng H

Ông Nguyễn Tiến D

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trần H - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc H - Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19 /2022/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:17 /2022/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

ĐỖ VĂN H, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 16 tháng 11 năm 1997 tại: Hện H, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu 14, xã Y, Hện H, tỉnh Phú Thọ.Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Đỗ Văn A Đã chết; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị A, sinh năm 1975. Bị cáo là con duy nhất trên gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: 01: Bản án Hình sự sơ thẩm số 142/2017/HSST ngày 27/9/2017 Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt Đỗ Văn H 36 tháng tù về tội “Giao cấu với trẻ em”, thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2017. H chấp hành xong hình phạt tù và ra trại ngày 14/2/2020. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/12/2021 đến ngày 29/12/2021 sau đó được cHển sang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Y, Hện H, tỉnh Phú Thọ.

(Có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty Tài chính M (viết tắt là FE CREDIT).

Địa chỉ: Tầng 2, tòa nhà Ree Tower, số 9 Đoàn Văn B, phường 13, quận 4, thành phố H; (Vắng mặt) .

2. Anh Nguyễn Quang V, sinh năm 1985

Địa chỉ: Khu Tân Lập, xã Phú Khê, Hện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ; (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 00 phút ngày 20/12/2021, tại khu vực đối diện nhà nghỉ C thuộc khu S, phường H, thị xã Phú Thọ tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã Phú Thọ phát hiện và bắt quả tang bị cáo Đỗ Văn H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại nơi kiểm tra, tổ công tác thu giữ của bị cáo H 02 túi nilon đều là loại túi zíp, màu trắng, có mép vuốt bịt kín, có viền kẻ màu đỏ. Tiến hành kiểm tra đối với 02 túi nilon nêu trên phát hiện: 01 túi nilon bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 01 túi nilon còn lại bên trong cũng chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, ngoài ra còn chứa 01 túi nilon khác cũng là loại túi zíp, màu trắng, có mép vuốt bịt kín, có viền kẻ màu đỏ. Tiếp tục mở túi nilon này ra phát hiện bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. Ngay tại nơi bị bắt bị cáo H khai nhận số chất rắn dạng tinh thể màu trắng đựng trong 03 túi nilon trên là ma túy đá, bị cáo cất giữ với mục đích để bán kiếm lời. Tổ công tác đã thu giữ và niêm phong 03 túi nilon chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng của bị cáo H và lập biên bản phạm tội đối với bị cáo H theo đúng quy định của pháp luật. Ngoài ra, quá trình bắt giữ tổ công tác còn tạm giữ của bị cáo H các đồ vật, tài sản gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng đã qua sử dụng, số seri: F73PCB22G5MF, có gắn thẻ sim số 0365.543.640; Tiền NHNN Việt Nam: 1.300.000 đồng; 01 xe máy nhãn hiệu Wave màu đen, đã qua sử dụng, BKS: 19F1

- 37300.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành bắt, khám xét khẩn cấp nơi nơi ở của bị cáo H tại Khu 14, xã Y, Hện H, tỉnh Phú Thọ. Quá trình khám xét không phát hiện và thu giữ gì. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phú Thọ đã tiến hành trưng cầu giám định chất rắn dạng tinh thể màu trắng đựng trong 03 túi nilon thu giữ của Đỗ Văn H. Tại bản kết luận giám định số 22/KLGĐ ngày 22/12/2021, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:

“Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa trong 03 túi nilon gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,355 gam,”

Methamphetamine: số thứ tự 323, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ

Hoàn lại đối tượng giám định: sau khi trích mẫu giám định, trả lại 0,178 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong, dán kín trong bì giấy có 05 hình dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán”.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo H khai nhận ngày 18/12/2021 bị cáo đi xuống thị xã Phú Thọ chơi nên có gặp và quen biết với Nguyễn Quang V, sinh năm 1985, nhà ở xã P, Hện C, tỉnh Phú Thọ. Qua nói cHện V biết bị cáo có sử dụng ma túy đá nên đã xin số điện thoại của bị cáo H.Đến khoảng hơn 19 giờ ngày 20/12/2021 V dùng số điện thoại 0966.309.912 gọi đến số điện thoại của H là 0365.543.640 nhưng bị cáo H không nghe máy, một lúc sau bị cáo thấy cuộc gọi nhỡ của V nên đã gọi điện lại cho V, V nghe máy và hỏi mua của bị cáo 500.000 đồng ma túy đá, bị cáo đồng ý và hỏi V đang ở đâu, V bảo không có xe và đang đợi ở Quảng trường thị xã Phú Thọ, bị cáo bảo V khi nào xuống đến nơi bị cáo sẽ gọi cho V. Do V gọi điện hỏi mua ma túy nên bị cáo H đã nảy sinh ý định đi mua ma túy về chia ra để bán kiếm lời, Bị cáo đã gọi đến số 0582.987.919 của một người đàn ông tình cờ bị cáo được một người làm công nhân cùng cho số điện thoại, bị cáo không biết tên, tuổi, không rõ mặt do đeo khẩu trang, không biết địa chỉ mà chỉ nghe nói nhà ở thị xã Phú Thọ) để hỏi mua của anh ta 1.000.000 ma túy đá. Người này đồng ý và bảo bị cáo H khi nào xuống đến gần sân vận động thị xã Phú Thọ thì gọi cho anh ta. Sau đó bị cáo H điều khiển xe Wave màu đen, BKS: 19F1 - 373.00 đi từ nhà xuống thị xã Phú Thọ khi gần xuống đến sân vận động bị cáo gọi lại cho người đàn ông lúc trước thì anh ta chỉ đường cho bị cáo đi đến gặp anh ta, khi gặp nhau bị cáo đưa cho anh ta 1.000.000 đồng, anh ta cầm tiền và đưa lại cho H 01 túi nilon bên trong có chứa 02 túi ma túy đá nhỏ, sau khi anh ta đi bị cáo lấy ra 01 túi ma túy đá rồi sẻ một nửa số ma túy đá vào trong túi nilon to, số ma túy còn lại bị cáo gói lại như cũ định mang đi bán cho V một phần, nhưng khi bị cáo đi qua khu vực nhà nghỉ Cây Xoài thì bị công an thị xã Phú Thọ phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo H, Cơ quan điều tra đã triệu tập Nguyễn Quang V đến làm việc. Tại Cơ quan điều tra, V thừa nhận tối ngày 20/12/2021 V gọi điện thoại đặt mua của bị cáo H 500.000 đồng tiền ma túy và được bị cáo H dặn đứng ở quảng trường thị xã Phú Thọ để đưa ma túy. Khi V đang đứng đợi thì bị Công an thị xã Phú Thọ đưa về làm việc. Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, V tự nguyện giao nộp 500.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu BONTEL màu đỏ đen đã qua sử dụng có số IMEI: 353133089860664, gắn thẻ sim số 0966.309.912.

Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra tiến hành xác minh và xác định được người đăng ký sử dụng số thuê bao 0582.987.919 (Số điện thoại của người bán ma túy theo lời khai của H) là Phí Thị Thu Trang, sinh ngày 19/4/1993, HKTT: Xã Minh Đài, Hện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ và chủ đăng ký số thuê bao số điện thoại 0365.543.640 mà bị cáo H sử dụng là Đỗ Anh T, sinh ngày 10/4/1990 HKTT: Xã Cáo Điền (nay là xã Y), Hện H, tỉnh Phú Thọ. Kết quả điều tra xác định chị Trang không đăng ký hay sử dụng số điện thoại 0582.987.919, cũng không cho ai mượn chứng minh thư để đăng ký số điện thoại trên, chị Trang không quen biết cũng như không có mối quan hệ gì đối với bị cáo H. Đồng thời, Cơ quan điều tra cũng xác minh làm rõ tháng 3/2020 bị cáo H (là em họ của anh Tuấn) có mượn chứng minh thư nhân dân của Tuấn để đăng ký sim số 0365.543.640. Từ thời điểm đó bị cáp H là người trực tiếp sử dụng số điện thoại 0365.543.640. Bản thân anh Tuấn không sử dụng và không biết việc bị cáo H dùng số điện thoại 0365.543.640 để liên lạc mua bán ma túy. Vì vậy Đỗ Anh Tuấn không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo H và cũng không có tài liệu gì chứng minh chị Phí Thị Thu Trang sử dụng số điện thoại 0582.987.919 để mua bán ma túy với bị cáo H. Việc Cơ quan CSĐT – Công an thị xã Phú Thọ không đề cập xử lý đối với anh Tuấn, chị Trang là phù hợp.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo H trong ngày 20/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Phú Thọ đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được người này.

Đối với Nguyễn Quang V xét thấy V đã thực hiện hành vi hỏi mua ma túy đá của bị cáo H, tuy nhiên V chưa mua được ma túy và khối lượng cụ thể không xác định được do bị cáo H đã bị bắt trước. Quá trình làm việc đã xét nghiệm chất ma túy đối với V, kết quả là âm tính với ma túy. Vì vậy, chưa có căn cứ xử lý về hành vi mua, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy với V nên Cơ quan CSĐT – Công an thị xã Phú Thọ không đề xuất xử lý mà chỉ giáo dục đối với Nguyễn Quang V.

Về vật chứng, đồ vật, tài liệu tạm giữ:

Đối với các vật chứng thu giữ của bị cáo H, kết quả điều tra xác định số tiền 1.300.000 đồng là tiền cá nhân của H không liên quan đến hành vi phạm tội; chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng đã qua sử dụng có gắn thẻ sim số 0365.543.640 là điện thoại của bị cáo H dùng để liên lạc cá nhân và trao đổi mua bán ma túy. Đối với chiếc xe máy BKS: 19F1 – 37300 là chiếc xe H sử dụng làm phương tiện đi lại và đi mua bán ma túy trong ngày 20/12/202, kết quả điều tra xác định chiếc xe này đứng tên đăng ký bị cáo H. Tháng 7 năm 2021, bị cáo H mua trả góp chiếc xe trên của Công ty Tài chính TNHH (viết tắt là FE CREDIT) và thế chấp khoản vay trả góp bằng chính chiếc xe. Hiện nay, H vẫn vẫn nợ FE CREDIT số tiền mua xe là 15.276.000 đồng nên giấy đăng ký xe bản gốc hiện FE CREDIT vẫn đang giữ và quản lý.

Đối với các đồ vật thu giữ của Nguyễn Quang V kết quả điều tra xác định số tiền 500.000 đồng là số tiền V chuẩn bị để trả tiền mua ma túy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu BONTEL màu đỏ đen đã qua sử dụng có số IMEI: 353133089860664, gắn thẻ sim số 0966.309.912 là điện thoại V dùng để liên lạc cá nhân và đặt mua ma túy của bị cáo H.

Tại bản cáo trạng số: 18/CT-VKSTXPT ngày 26/4/2022, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ đã truy tố bị cáo Đỗ Văn H về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn H từ 36 (Ba mươi sáu) đến 39 (Ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 20/12/2021 đến ngày 29/12/2021.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2, Điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu bán nộp ngân sách nhà nước 02 chiếc điện thoại di động: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng đã qua sử dụng số seri: F73PCB22G5MF (điện thoại đã hết pin không kiểm tra được tình trạng máy còn hoạt động được hay không và không kiểm tra được số seri của máy) của H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu BONTEL màu đỏ đen đã qua sử dụng có số IMEI: 353133089860664 (điện thoại đã hết pin không kiểm tra được tình trạng máy còn hoạt động được hay không) của V.

Trả lại số tiền 500.000đồng cho Nguyễn Quang V.

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 22/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự

- Công an tỉnh Phú Thọ bên trong có chứa 0,178 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong, dán kín trong bì giấy có 05 hình dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán; 02 sim điện thoại số 0365.543.640 và 0966.309.912.

Trả lại cho bị cáo H: 01 chiếc xe máy WAVE màu đen, đã qua sử dụng, BKS: 19F1 – 37300 (Không có gương chiếu hậu, không có giá để đồ phía trước). và số tiền 1.300.000đồng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử, xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm trở về gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thị xã Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định và phù hợp với pháp luật.

Đánh giá chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:

Vào hồi 22 giờ 00 phút ngày 20/12/2021, tại khu vực đối diện nhà nghỉ Cây Xoài thuộc khu S, phường H, thị xã Phú Thọ; bị cáo H đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,355gam Methamphetamine nhằm để bán thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Phú Thọ kiểm tra bắt giữ.

Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ pháp lý kết luận bị cáo Đỗ Văn H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 điều 251 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ truy tố bị cáo về tội danh cũng như điều khoản trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Khoản 1 Điều 251 - Bộ luật Hình sự quy định:

”1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Xét thấy tính chất vụ án là thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn và nó là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do vậy cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt thật nghiêm minh để bị cáo nhận thức được tính chất nghiêm trọng và hậu quả do hành vi của bị cáo đã gây ra, đồng thời có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm. Song khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau: Trước lần phạm tội này bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì xử 36 tháng tù về tội “Giao cấu với trẻ em”. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để sữa chữa tội lỗi của mình mà lại tiếp tục phạm tội, lần phạm tội này là tái phạm nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, mới đủ điều kiện để giáo dục bị cáo rèn luyện, cải tạo được tội lỗi mà bị cáo đã phạm. Đối với bị cáo chỉ cần áp dụng hình phạt như Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ đề nghị là phù hợp. Mức án đó cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội.

. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 251 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 500.000.000đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, không có tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Đỗ Văn H trong ngày 20/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Phú Thọ đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được người này.

Đối với Nguyễn Quang V xét thấy V đã thực hiện hành vi hỏi mua ma túy đá của Đỗ Văn H, tuy nhiên V chưa mua được ma túy và khối lượng cụ thể không xác định được do H bị bắt trước. Quá trình làm việc đã xét nghiệm chất ma túy đối với V, kết quả là âm tính với ma túy. Vì vậy, chưa có căn cứ xử lý về hành vi mua, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy với V nên Cơ quan CSĐT – Công an thị xã Phú Thọ không đề xuất xử lý mà chỉ giáo dục đối với Nguyễn Quang V.

. Về xử lý vật chứng và các tài sản, đồ vật tạm giữ

Đối với 01 bì niêm phong số 22/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ bên trong có 0,178 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 02 chiếc điện thoại di động: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng đã qua sử dụng số seri: F73PCB22G5MF (điện thoại đã hết pin không kiểm tra được tình trạng máy còn hoạt động được hay không và không kiểm tra được số seri của máy) của H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu BONTEL màu đỏ đen đã qua sử dụng có số IMEI: 353133089860664 (điện thoại đã hết pin không kiểm tra được tình trạng máy còn hoạt động được hay không) của V do bị cáo sử dụng liên lạc cá nhân và liên lạc với V để mua bán ma túy nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với 02 sim điện thoại số 0365.543.640 và 0966.309.912 không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 500.000 đồng là số tiền V chuẩn bị để trả tiền mua ma túy nhưng chưa mua được cần trả lại cho anh V.

Đối với số tiền 1.300.000 đồng là tiền cá nhân của H không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 chiếc xe máy WAVE màu đen, đã qua sử dụng, BKS: 19F1 – 37300 (Không có gương chiếu hậu, không có giá để đồ phía trước). Đăng ký là Đỗ Văn H đứng tên. Tháng 7 năm 2021, H mua trả góp chiếc xe trên của Công ty Tài chính TNHH M (viết tắt là FE CREDIT) và thế chấp khoản vay trả góp bằng chính chiếc xe. Hiện nay, H vẫn vẫn nợ FE CREDIT số tiền mua xe là 15.276.000 đồng nên giấy đăng ký xe bản gốc hiện FE CREDIT vẫn đang giữ và quản lý. Vì vậy, hiện chiếc xe đang là tài sản thế chấp, nên không tịch thu chiếc xe mà trả lại cho bị cáo là người thế chấp là phù hợp.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52. Điều 38 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2, Điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn H 39 (ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 20/12/2021 đến ngày 29/12/2021.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 22/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự

- Công an tỉnh Phú Thọ bên trong có chứa 0,178 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong, dán kín trong bì giấy có 05 hình dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán; 02 sim điện thoại số 0365.543.640 và 0966.309.912.

Tịch thu bán nộp ngân sách nhà nước 02 chiếc điện thoại di động: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng đã qua sử dụng số seri: F73PCB22G5MF (điện thoại đã hết pin không kiểm tra được tình trạng máy còn hoạt động được hay không và không kiểm tra được số seri của máy) của H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu BONTEL màu đỏ đen đã qua sử dụng có số IMEI: 353133089860664 (điện thoại đã hết pin không kiểm tra được tình trạng máy còn hoạt động được hay không) của V;

Trả lại số tiền 500.000 đồng cho anh Nguyễn Quang V.

Trả lại cho bị cáo H: 01 chiếc xe máy WAVE màu đen, đã qua sử dụng, BKS: 19F1 – 37300 (Không có gương chiếu hậu, không có giá để đồ phía trước) và số tiền 1.300.000đồng.

(Theo biên bản giao nhận, đồ vật, tài liệu, vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ ngày 28/4/2022).

Về án phí: Buộc bị cáo Đỗ Văn H phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt được quyền kháng cáo. Người có quyền lợi liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND tỉnh PT;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND thị xã Phú Thọ;

- Công an thị xã Phú Thọ;

- Cơ quan THAHS

- Chi cục THADS thị xã Phú thọ;

- Sở Tư pháp tỉnh PT;

- UBND xã Y, Hện H, tỉnh Phú Thọ;

- Bị cáo;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

Trần Thị Ngọc Hà

- Lưu: HS+VP. g c¸o trong h ngµy tuyªn ¸n ®Ó ®Ò nghÞ xÐt xö theo tr

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THỊ XÃ PHÚ THỌ

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH PHÚ THỌ

––––––––––––––––––––––––––––––

–––––––––––––––

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi.........giờ........phút, ngày 31 tháng 5 năm 2022;

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: /2022/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

Đỗ Văn H - Sinh ngày 16 tháng 11 năm 1997;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu 14, xã Y, Hện H, tỉnh Phú Thọ.

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ, trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Biểu quyết: 3/3

2. Những tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là hợp pháp.

Biểu quyết: 3/3

3. Hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho bị cáo đúng thời hạn do pháp luật quy định. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì.

Biểu quyết 3/3.

4. Điều luật áp dụng, hình phạt:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52. Điều 38 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2, Điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn H ( ) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 20/12/2021 đến ngày 28/12/2021.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Biểu quyết: 3/3

5. Bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.

Biểu quyết: 3/3

6. Về xử lý vật chứng và án phí:

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 22/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự

- Công an tỉnh Phú Thọ; 0,178 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong, dán kín trong bì giấy có 05 hình dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán”; 02 sim điện thoại số 0365.543.640 và 0966.309.912.

Tịch thu bán nộp ngân sách nhà nước 02 chiếc điện thoại di động: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng đã qua sử dụng số seri: F73PCB22G5MF, có gắn thẻ sim số 0365.543.640 (điện thoại đã hết pin không kiểm tra được tình trạng máy còn hoạt động được hay không và không kiểm tra được số seri của máy) của H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu BONTEL màu đỏ đen đã qua sử dụng có số IMEI: 353133089860664, gắn thẻ sim số 0966.309.912 (điện thoại đã hết pin không kiểm tra được tình trạng máy còn hoạt động được hay không) của V;

Trả lại số tiền 500.000đồng cho anh Nguyễn Quang V.

Trả lại cho bị cáo H: 01 chiếc xe máy WAVE màu đen, đã qua sử dụng, BKS: 19F1 – 37300 (Không có gương chiếu hậu, không có giá để đồ phía trước). Đăng ký là Đỗ Văn H đứng tên. Tháng 7 năm 2021, H mua trả góp chiếc xe trên của Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC (viết tắt là FE CREDIT) đã thế chấp khoản vay trả góp bằng chính chiếc xe và số tiền 1.300.000đồng.

(Theo biên bản giao nhận, đồ vật, tài liệu, vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ ngày 28/4/2022).

Buộc bị cáo Đỗ Văn H phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Biểu quyết: 3/3

7. Kiến nghị phòng ngừa khắc phục tội phạm: Không.

Biểu quyết: 3/3

Nghị án kết thúc vào hồi……...giờ…….phút, ngày 31 tháng 5 năm 2022.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Ngọc Hà

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THỊ XÃ PHÚ THỌ

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

__________________________________________________________

TỈNH PHÚ THỌ

_____________________________

Thị xã Phú Thọ, ngày 31 tháng 5 năm 2022

Số: /2022/TB-TA

THÔNG BÁO

KẾT QUẢ XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ

Kính gửi: - UBND xã Phú Hộ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ

Căn cứ vào Điều 262 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2022/HSST ngày 31 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.

Ngày 23 tháng 03 năm 2021, Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 12/2021/TLST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:

Cỡ chữ