- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Hồng T, Trương Hồng Tr phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (đi…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trương Hồng T và Trương Hồng Tr phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN TỈNH QUẢNG NAM ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:20/2022/HS-ST Ngày 24/02/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tân.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Lương Thị Kim Anh;
2/ Ông Nguyễn Văn Tươi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thương - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2022, tại Hội Tr Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 137/2021/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2021/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2021 và Thông báo thời gian xét xử số 18/2022/TB-TA ngày 24 tháng 01 năm 2022, đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Trƣơng Hồng T, sinh ngày 20 tháng 6 năm 1986, tại huyện N, tỉnh Q; Nơi cư trú: Thôn TA, xã Q, huyện N, tỉnh Q; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không, Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Hồng A (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, có vợ là bà Nguyễn Thị H và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2009 và con nhỏ nhất sinh năm 2021. Tiền án: tháng 4/2016, bị TAND huyện D, tỉnh Q tuyên phạt 30 tháng tù về tội cướp tài sản. Ngày 24/8/2019 chấp hành xong; Tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Trƣơng Hồng Tr, sinh ngày 16 tháng 5 năm 1988, tại huyện N, tỉnh Q; Nơi cư trú: Thôn TA, xã Q, huyện N, tỉnh Q; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không, Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Hồng A(đã chết) và bà Nguyễn Thị L, chưa có vợ. Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: tháng 4/2016, bị TAND huyện D, tỉnh Q tuyên phạt 24 tháng tù về tội cướp tài sản. Ngày 12/5/2018 chấp hành xong; Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Lê Văn T, sinh năm: 1985; Địa chỉ: Tổ 3, thôn BS, xã DP, huyện D, tỉnh Q (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị R, sinh năm: 1968; Địa chỉ: Khối NG, phường ĐN, thị xã Đ, tỉnh Q (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 08/6/2021, trong lúc đang ngồi xem bóng đá tại quán cà phê Hoa Đào thuộc khối phố NG, phường Đ, thị xã ĐB thì Trương Hồng T vô cớ lấy cái áo của mình trùm lên đầu anh Lê Văn T1. Anh T1 cầm cái áo vứt ra đường thì T dùng tay đánh nhiều cái vào người T1 và yêu cầu anh T1 ra nhặt áo vào cho T nhưng anh T1 không lấy. Anh T1 cầm ghế đi qua bàn khác ngồi. T T tục đi lại chỗ T1 dùng tay đánh vào người anh T1. Anh T1 tức giận dùng tay đánh 01 cái trúng vào mắt của T rồi hai bên dẫn đến xô xát với nhau nhưng được mọi người can ngăn. Lúc này, Trương Hồng Tr (em ruột của T) đến, nhìn thấy sự việc. Anh T1 sang quán cà phê bên cạnh ngồi khoảng 10 phút thì đi về phòng trọ ở khối phố NG, phường Đ để thay đồ đi làm. Sau đó, T rủ Tr xuống phòng trọ anh T1 để hỏi chuyện. T điều khiển xe máy đi trước, Tr đi theo sau. Đến nơi, T để xe ngoài đường đi vào thì gặp anh T1 đi ra. Nhìn thấy T, anh T1 hoảng sợ bỏ chạy vào bên trong phòng trọ, đóng cửa và khóa chốt bên trong. T đi lại đống củi phía ngoài phòng trọ lấy 01 cái rựa (dài 55cm bao gồm cả phần cán và phần lưỡi) và 01 đoạn cây gỗ (tròn, dài 62cm, đường kính đầu nhỏ 05cm, đầu lỡn 5,7cm) rồi đi đến trước cửa phòng trọ anh T1, Tr đi vào sau. T dùng rựa phá cửa, thò tay vào bên trong mở cửa rồi cùng Tr xông vào. T1 chạy lại cạnh bàn bếp lấy ra 01 cái rựa (dài 57cm bao gồm cả phần cán và phần lưỡi) đưa lên thì bị T dùng rựa và đoạn cây gỗ kẹp lại, Tr xông vào giật lấy cái rựa trên tay T1 rồi vứt ra bên ngoài cửa. T cũng vứt cái rựa và đoạn cây gỗ ra bên ngoài cửa rồi cùng Tr xông vào dùng tay đánh nhiều cái vào mặt, người anh T1. Anh T1 nhặt cái chảo trên bàn bếp để đánh trả, T giơ tay lên đỡ và dùng tay kia giật lấy cái chảo đánh vào đầu anh T1 nhưng không gây thương tích gì. Anh T1 chạy vào phòng vệ sinh thì bị Tr dùng tay đánh vào người làm anh T1 bị ngã lên bệ cầu, anh T1 vùng chạy ra thì bị T giữ lại làm đầu anh T1 đập vào cạnh tường phòng vệ sinh gây thương tích ở trán. Anh T1 T tục chạy ra bên ngoài thì T đuổi theo nhặt đoạn cây gỗ lúc nãy đánh một cái trúng vào cổ anh T1 làm anh T1 gục ngã xuống đất và bất tỉnh. Thấy vậy, T và Tr bỏ về. Anh T1 được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Đức.
Theo Bản giám định thương tích số 221/GĐTT.21 ngày 17/6/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Q kết luận thương tích của anh Lê Văn T1 cụ thể như sau:
- Vùng đỉnh – trán chếch về bên trái có vết rách dập da, cơ và vết mổ đã khâu dài 6cm, rộng 0,3cm (nứt xương trán, đường nứt đi qua xoang trán trái gây tụ dịch xoan trán trái, tụ dịch xoang hàm hai bên đã được điều trị nội khoa tạm ổn). Vết thương do vật tày có cạnh tác động gây nên, lực tác động mạnh, hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới. Tỷ lệ thương tích 15%.
- Xung quanh hốc mắt trái có dấu thâm tím, tụ máu, xuất huyết góc ngoài kết mạc mắt trái. Tình trạng thâm tím, tụ máu sau một thời gian điều trị sẽ khỏi nên không xếp tỷ lệ thương tích.
- Dấu sưng nề vùng môi trên hai bên đã lành, không để lại di chứng gì nên không xếp tỷ lệ thương tích.
- Bệnh nhân còn đau nhiều vùng cổ, kiểm tra không thấy xây xát da, thâm tím, tụ máu dưới da, đau chủ yếu da và cơ. Tình trạng đau da, cơ quanh vùng cổ sau một thời gian điều trị sẽ khỏi nên không xếp tỷ lệ thương tích.
Kết luận giám định: vết thương vùng đỉnh – trán chếch trái gây nứt xương trán, đường nứt đi qua xoang trán trái gây tụ dịch xoang trán trái, tụ dịch xoang hàm hai bên đã được điều trị nội khoa tạm ổn. Không thấy dấu hiệu thần kinh khu trú. Tỷ lệ thương tích 15%.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Điện Bàn đã tạm giữ các vật chứng như sau:
- 01 cái rựa dài 55cm (phần cán dài 27cm, phần lưỡi dài 28cm, đầu phần lưỡi bị cong biến dạng).
- 01 cái rựa dài 57cm (phần cán dài 26cm, phần lưỡi dài 31cm).
- 01 đoạn cây gỗ tròn, dài 62cm, đường kính đầu nhỏ 5cm, đầu lớn 5,7cm.
- 01 cái chảo dài 42cm gồm cả phần cán và phần chảo, đã bị biến dạng, móp méo).
Tất cả vật chứng được chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đ để xử lý theo quy định của pháp luật.
* Về trách nhiệm dân sự: các bị cáo đã bồi thường cho anh Lê Văn T1 12.900.000 đồng. Anh T1 đã có đơn bãi nại trách nhiệm dân sự và đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị can.
Tại Cáo trạng số 121/CT-VKS ngày 30 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn truy tố bị cáo Trương Hồng T và Trương Hồng Tr về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trương Hồng T và Trương Hồng Tr phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
- Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), đề nghị xử phạt bị cáo Trương Hồng T từ 30 tháng đến 36 tháng tù.
- Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), đề nghị xử phạt bị cáo Trương Hồng Tr từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 cái rựa dài 55cm (phần cán dài 27cm, phần lưỡi dài 28cm, đầu phần lưỡi bị cong biến dạng); 01 cái rựa dài 57cm (phần cán dài 26cm, phần lưỡi dài 31cm); 01 đoạn cây gỗ tròn, dài 62cm, đường kính đầu nhỏ 5cm, đầu lớn 5,7cm; 01 cái chảo dài 42cm gồm cả phần cán và phần chảo, đã bị biến dạng, móp méo).
(Vật chứng hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đ đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 77/QĐ-VKS ngày 30/11/2021).
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Các bị cáo không có ý kiến gì về kết luận điều tra và quyết định truy tố, các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, tại phần tranh luận Trương Hồng Tr cho rằng với hành vi và nhân thân của bị cáo phải được xem xét xử dưới 2 năm tù chứ không như đề nghị của đại diện VKS; bị cáo Trương Hồng T xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Điện Bàn, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Phân tích những chứng cứ xác định có tội, không có tội:
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định thương tích cùng với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở xác định: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 08/6/2021, do mâu thuẫn nhỏ nhặt xuất phát từ sự vô cớ của Trương Hồng T mà T đã rủ Trương Hồng Tr đến phòng trọ của anh T1 tại khối phố N, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Q. Anh T1 chạy vào phòng trọ đóng cửa lại thì T dùng rựa phá cửa, xông vào đánh anh T1. Khi anh T1 chạy vào phòng vệ sinh thì bị Tr dùng tay đánh vào người làm anh T1 bị ngã lên bệ cầu, anh T1 vùng chạy ra thì bị T giữ lại làm đầu anh T1 đập vào cạnh tường phòng vệ sinh gây thương tích ở trán. Anh T1 T tục chạy ra bên ngoài thì T đuổi theo nhặt đoạn cây gỗ lúc nãy đánh một cái trúng vào cổ anh T1 làm anh T1 gục ngã xuống đất và bất tỉnh. Kết quả giám định thương tích anh T1 bị thương tỷ lệ 15%. Hành vi của các bị cáo mang tính côn đồ. Do đó, hành vi của các bị cáo Trương Hồng T và Trương Hồng Tr đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các Tr hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Cáo trạng số 121/CT-VKS ngày 30 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐB đã truy tố.
Xét tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình đã xâm phạm đến sức khoẻ của người khác; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự.
Xét vai trò của từng bị cáo: Trong vụ án này, bị cáo Trương Hồng T là người gây mâu thuẫn với anh T1, mâu thuẫn lại nhỏ nhặt nhưng bị cáo đã rủ Tr đến nhà T1; khi đến nơi T đã chủ động đánh anh T1 mặc dù anh T1 đã chạy vào nhà đóng cửa, T T tục dùng hung khí đập phá cửa vào nhà và cùng với Tr dùng tay chân đánh anh T1, anh T1 té ngã và bỏ chạy nhưng T vẫn T tục đuổi theo và dùng cây đánh T vào cổ anh T1 làm anh T1 bất tỉnh. Đối với Trương Hồng Tr mặc dù không biết rõ nguyên nhân mẫu thuẫn giữa T và T1 nhưng vẫn đến nhà T1, cùng với T dùng tay chân đánh anh T1 làm anh T1 té đập đầu. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm trực T đến sức khỏe người, mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Xét vai trò của từng bị cáo thì bị cáo Tr chịu mức hình phạt thấp hơn bị cáo T là thỏa đáng.
Trong vụ án này, hành vi của các bị cáo là mang tình bộc phát, không có sự câu kết chặt chẽ để cùng thực hiện tội phạm, do đó không thuộc Tr hợp phạm tội có tổ chức.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Trương Hồng T đã bị Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Q tuyên phạt 30 tháng tù về tội cướp tài sản vào ngày 24/8/2019 bị cáo chấp hành xong nhưng chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý nên thuộc Tr hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trương Hồng Tr có nhân thân xấu, đã bị xử phạt về tội cướp tài sản.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên, các bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại và người bị hại có đơn yêu cầu Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Về vật chứng: Các vật chứng không còn giá trị sử dụng, người bị hại không yêu cầu nhận lại tài sản, do đó HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 cái rựa dài 55cm (phần cán dài 27cm, phần lưỡi dài 28cm, đầu phần lưỡi bị cong biến dạng); 01 cái rựa dài 57cm (phần cán dài 26cm, phần lưỡi dài 31cm); 01 đoạn cây gỗ tròn, dài 62cm, đường kính đầu nhỏ 5cm, đầu lớn 5,7cm; 01 cái chảo dài 42cm gồm cả phần cán và phần chảo, đã bị biến dạng, móp méo).
(Vật chứng hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đ đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 77/QĐ-VKS ngày 30/11/2021).
Về dân sự: Các bị cáo và người bị hại đã thỏa thuận bồi thường, bị hại không có yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
Các vấn đề khác: Đối với cửa phòng trọ bị Trương Hồng T đập phá, bà Đặng Thị R (chủ phòng trọ) từ chối việc định giá và không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.
Tại phiên tòa, lời trình bày luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, do đó HĐXX chấp nhận.
Về án phí: Các bị cáo Trương Hồng T và Trương Hồng Tr phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố các bị cáo Trương Hồng T và Trương Hồng Tr phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Trương Hồng T 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Trương Hồng Tr 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 cái rựa dài 55cm (phần cán dài 27cm, phần lưỡi dài 28cm, đầu phần lưỡi bị cong biến dạng); 01 cái rựa dài 57cm (phần cán dài 26cm, phần lưỡi dài 31cm); 01 đoạn cây gỗ tròn, dài 62cm, đường kính đầu nhỏ 5cm, đầu lớn 5,7cm; 01 cái chảo dài 42cm gồm cả phần cán và phần chảo, đã bị biến dạng, móp méo).
(Vật chứng hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đ đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 77/QĐ-VKS ngày 30/11/2021).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trương Hồng T và Trương Hồng Tr mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: các bị cáo và người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Nam; - Các cơ quan tiến hành tố tụng; - Những người tham gia tố tụng; - Đội Tổng hợp Công an Điện Bàn; - Phòng HSNV Sở Tư Pháp Q Nam; - Lưu. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Minh Tân |