- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc Th phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2022/HSST Ngày: 21/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đình Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Tuyến và ông Nguyễn Thế Sách
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thứ – Thư ký TAND huyện Quế Võ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Phạm Ngọc Th, sinh năm 1998
HKTT: thôn Phố Mới, xã Vạn Linh, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Nùng; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Quang Bình và bà Thi Thị Lai; vợ, con: chưa có; tiền sự: Không.
- Tiền án: 01 tiền án, Tại Bản án số 87/2018/HSST ngày 23/5/2018 của Toà án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 38 tháng tù về tội Cướp giật tài sản theo điểm d, Khoản 2, Điều 171 BLHS và 16 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c, Khoản 1, Điều 249 BLHS. Chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 07/01/2022.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/7/2022 đến nay. Có mặt.
- Bị hại:
1. Chị Triệu Thị Minh Ch, sinh năm 2003, HKTT: thôn Bến Cát, xã Minh Tiến, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn (Vắng mặt)
2. Anh Bùi Th Ý, sinh năm 2001, HKTT: làng Bla, xã Kdang, huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Ngọc Th là đối tượng không có công việc ổn định. Khoảng 19 giờ ngày 28/7/2022, Th đi đến quán bia ở khu vực thôn My Điền, thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang uống bia cùng anh Vi Thiện Sơn, sinh năm 1995, HKTT: thôn Pa Ràng, xã Hoà Bình, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn (là bạn quen biết ngoài xã hội). Sau đó, Th mượn xe mô tô Yamaha Jupiter màu đen – xám, BKS: 12X1-153.80 của anh Sơn để đi đến phòng trọ người quen vay tiền. Khi Th điều khiển xe đến khu vực xã Đình Trám, huyện Việt Yên thì dừng xe tháo BKS xe ra cất vào cốp xe với mục đích khi đi cướp giật tài sản không bị ai phát hiện ra biển số xe. Sau khi điều khiển xe mô tô đến địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Th đã cướp giật 02 chiếc điện thoại cụ thể như sau:
- Vụ thứ nhất: Khoảng 20h10’ ngày 28/7/2022 khi Th điều khiển xe mô tô đến khu vực ngã ba thôn Phương Cầu, xã Phương Liễu thì phát hiện chị Triệu Thị Minh Châu đang đi bộ trên đường, tay đang sử dụng 01 điện thoại di động màu trắng nhãn hiệu Iphone XSMAX màu trắng nên Th đã điều khiển xe đi lên từ phía sau, áp sát vào bên trái của chị Châu rồi dùng tay trái giật chiếc điện thoại trên rồi bỏ chạy.
- Vụ thứ hai: Khoảng 20h45’ ngày 28/7/20022, vẫn thủ đoạn như trên khi đến khu vực cổng chào thôn Do Nha, xã Phương Liễu phát hiện thấy anh Bùi Th Ý đang đứng ở vỉa hè, tay cầm 01 điện thoại di động Redmi Note9S và đeo tai nghe, nên Th điều khiển xe đi lên từ phía sau, áp sát vào bên trái của anh Ý rồi dùng tay trái giật chiếc điện thoại trên rồi bỏ chạy về phía khu vực xã Đình Trám, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Tại đây, Th dừng lại lắp BKS xe rồi lấy 02 chiếc điện thoại di động vừa cướp giật được ra kiểm tra bên trong đồng thời tháo thẻ sim của hai chiếc điện thoại Iphone XSMAX và Redmi Note9s vứt đi, rồi mang xe mô tô về trả cho anh Sơn.
Ngay sau khi tiếp nhận các đơn trình báo của người bị hại, Cơ quan điều tra tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, ngày 29/7/2022 đã triệu tập Phạm Ngọc Th đến Cơ quan điều tra để xác minh làm rõ. Tại cơ quan điều tra Phạm Ngọc Th đã đầu thú khai nhận hành vi cướp giật nêu trên và giao nộp tang vật gồm:
- 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Vivo Y91 màu xanh, số imei: 862275046659814;
- 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone XSMAX màu trắng, số imei: 357263090968846;
- 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Redmi Note9s màu xanh, số imei: 868401056363766;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đen – xám, BKS: 12X1-15380, số khung 1340HY058504, số máy: E3S1E095760.
Tại Kết luận định giá tài sản số 53/KL-HĐ ĐGTS ngày 12/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quế Võ kết luận: “01 chiếc điện thoại di động hiệu Redmi Note9s có giá 3.500.000 đồng”.
Tại Kết luận định giá tài sản số 62/KL-HĐ ĐGTS ngày 29/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quế Võ kết luận: “01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone XSMAX màu trắng có giá 9.000.000 đồng”.
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT đã trả tài sản cho người bị hại các điện thoại di động bị cướp giật. Chị Châu, anh Ý đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị can phải bồi thường đối với 02 chiếc thẻ sim chưa thu hồi
Với nội dung trên, tại Cáo trạng số 155/CT-VKSQV ngày 21 tháng 11 năm 2022 của VKSND huyện Quế Võ đã truy tố: Phạm Ngọc Th về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, i, khoản 2, Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay:
Bị cáo Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố nêu trên. Bị cáo đều xác định hành vi của mình là phạm tội và hứa sẽ cải tạo tốt, không tái phạm.
Bị hại là chị Triệu Thị Minh Châu và anh Bùi Th Ý đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đề nghị xét xử vắng mặt và đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Th theo quy định pháp luật và không yêu cầu Th bồi thường gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Khẳng định Cáo trạng truy tố các bị cáo là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc Th phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; các điều 329, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Xử phạt Phạm Ngọc Th từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2022. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Bị cáo Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo Th nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện VKSND huyện Quế Võ, chỉ đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; về các biện pháp điều tra như lấy lời khai bị can, lấy lời khai người chứng kiến, xác định hiện trường vụ án, trưng cầu định giá, xác minh lý lịch, nhân thân của bị can; về việc giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can, người liên quan. Các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên là chứng cứ của vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay, người bị hại là chị Triệu Thị Minh Châu và anh Bùi Th Ý vắng mặt nhưng có đề nghị xét xử vắng mặt, đồng thời cũng đã có đầy đủ quan điểm liên quan đến quyền lợi của mình. Do vậy việc vắng mặt của chị Châu và anh Ý không ảnh hưởng đến việc xét xử.
Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Ngọc Th tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với Đơn xin đầu thú, các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bản kết luận định giá tài sản, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để xác định:
Trong khoảng thời gian từ 20h đến 20h45’ ngày 28/7/2022, tại khu vực thôn Phương Cầu, thôn Do Nha, xã Phương Liễu, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, lợi dụng việc chị Triệu Thị Minh Châu và anh Bùi Th Ý sử dụng điện thoại di động khi đang đi trên đường, Phạm Ngọc Th đã có hành vi điều khiển xe mô tô áp sát dùng tay trái cướp giật 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMAX màu trắng trị giá 9.000.000 đồng của chị Châu; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note9s màu xanh trị giá 3.500.000 đồng của anh Ý. Tổng giá trị tài sản Th cướp giật trị giá: 12.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu Th tội ‘’Cướp giật tài sản”.
Mặt khác, bị cáo dùng xe mô tô cướp giật điện thoại di động của bị hại thuộc trường hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”. Đồng thời, tại Bản án số 87/2018/HSST ngày 23/5/2018 của Toà án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 38 tháng tù về tội Cướp giật tài sản theo điểm d, Khoản 2, Điều 171 BLHS và 16 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c, Khoản 1, Điều 249 BLHS, chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 07/01/2022, nên lần phạm tội này của bị cáo – vào ngày 08/4/2021 thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”
Do vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Phạm Ngọc Th phạm tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự, đúng như Cáo trạng của VKSND huyện Quế Võ đã truy tố.
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo Th hai lần thực hiện hành vi cướp giật tài sản nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g Khoản 1, Điều 52 BLHS.
- Sau khi phạm tội bị cáo tự nguyện đầu thú, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều Th khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đều không có nghề nghiệp, không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Châu và anh Ý đã nhận lại điện thoại di động bị cướp giật và đều không yêu cầu bồi thường gì, kể cả 02 thẻ sim chưa thu hồi nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Về vật chứng vụ án, gồm có:
- Đối với 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone XSMAX và 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Redmi Note9s màu xanh lần lượt là tài sản của chị Châu và anh Ý nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Quế Võ đã trả lại chị Châu và anh Ý là đúng quy định.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiện YAMAHA Jupiter màu đen – xám BKS: 12X1 – 153.80, quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc quyền quản lý hợp pháp của anh Vi Thiện Sơn, khi cho mượn anh Sơn không biết Th dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Sơn quản lý, sử dụng là đúng quy định.
Liên quan trong vụ án này còn có: Hành vi cướp giật 01 điện thoại di động Vivo Y91 màu xanh của một người phụ nữ đang đi bộ ở lề đường bên phải ở khu vực Khu công nghiệp Quế Võ của Th, tuy nhiên hiện nay chưa xác định được người bị hại nên Cơ quan điều tra tách ra, tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc Th phạm tội “Cướp giật tài sản”.
2. Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; các điều 329, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
3. Xử phạt Phạm Ngọc Th 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2022.
4. Tạm giam Phạm Ngọc Th 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
5. Về án phí: Phạm Ngọc Th phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kết từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
TH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Tuyến
Nguyễn Thế Sách
Phan Đình Công
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND huyện Quế Võ; - Công an huyện Quế Võ; - Chi cục THADS huyện Quế Võ; - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh; - Bị cáo; - Lưu HS, VT; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Đình Công |