vanban.org

Bản án 20/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương Tuyên án 28/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nguy n Văn Ch phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguy n Văn Ch 27 ( ai mư i bẩy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 12/12/2021. 3/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 kìm cộng lực, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn Ch phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nguy n Văn Ch phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật ình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật ình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM THÀNH
tØnh h¶i d ¬ng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2022/HSST
Ngày: 28/04/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH – TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ng Nguy n Văn Trung.

Các Hội thẩm nhân dân: ng Nguy n Văn Dũng và ông Phạm Văn Chỉ.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: ng Đinh Quốc Cường, Thư ký Toà án nhân dân huy n im Thành, tỉnh ải Dư ng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện im Thành, t nh Hải ương tham gia phiên toà: ng Nguy n Duy Đạt, iểm sát viên.

Ngày 28 tháng 04 năm 2022, tại ội trường xét xử Tòa án nhân dân huy n im Thành, tỉnh ải Dư ng, xét xử công khai s thẩm vụ án hình sự đã thụ lý số 19/2022/ SST ngày 29 tháng 03 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/QĐXXST- S ngày 12/04/2022, đối với bị cáo Nguyễn Văn Ch , sinh năm: 1985; Giới tính: Nam; n i Đ TT: Thôn Đ, xã Đ, huy n A, thành phố Hải Phòng; quốc tịch: Vi t Nam; dân tộc: inh; tôn giáo: hông; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghi p: hông; họ và tên bố: Nguy n Văn Th, sinh năm 1966; họ và tên mẹ: oàng Thị T, sinh năm 1967; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: Bản án số 91/2009/ SST ngày 11/11/2009,Tòa án nhân dân huy n Tĩnh Gia, tỉnh Thanh óa, xử phạt Nguy n Văn Ch 06 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, Ch chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/11/2013, chưa chấp hành xong các quyết định khác của Bản án.

Bản án số 45/2019/ SST ngày 02/8/2021, Tòa án nhân dân huy n An Dư ng, thành phố Hải Phòng, xử phạt Nguy n Văn Ch 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản với tình tiết tái phạm, Ch chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/8/2020, chấp hành xong án phí ngày 07/8/2020.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/12/2021 đến ngày 15/12/2021, chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huy n im Thành, tỉnh Hải Dư ng từ ngày 15/12/2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Phạm Văn Tr, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn D, xã N, huy n K, tỉnh Hải Dư ng. Anh Tr xin vắng mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

+ Anh oàng Văn Ph, sinh năm: 1991

Địa chỉ: Thôn B, xã N, huy n K, tỉnh Hải Dư ng.

+ Anh oàng Văn Th1, sinh năm: 1988

Địa chỉ: Thôn P, xã , huy n K, tỉnh Hải Dư ng.

+ Chị Nguy n Thị A, sinh năm: 1971.

Địa chỉ: Thôn A, xã T, huy n T, tỉnh Hải Dư ng.

+ Anh Phạm Văn Th2, sinh năm: 1974

Địa chỉ: Thôn N, xã T, huy n K, tỉnh Hải Dư ng.

(Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ s vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 04 giờ ngày 12/12/2021, Nguy n Văn Ch điều khiển xe mô tô nhãn hi u SYM - Angel 100, màu xanh, biển số 34L1-8960, đem theo 01 kìm cộng lực, 01 mỏ lết 12-300, 01 kìm chết, 01 cà lê 10-12, 01 cà lê 12, 01 cà lê 13, 01 tành tạch, 01 đèn pin, 01 mỏ lết 6-150, 01 bình xịt h i cay để trong 01 túi vải màu tím than kích thước 30x35cm để ở võng xe mô tô từ nhà đến Ga P, huy n , tỉnh ải Dư ng, sau đó Ch điều xe đi vào Quốc lộ 17B hướng P - N mục đích trộm cắp bình ắc quy của xe ô tô đỗ ngoài đường không có ai trông coi, quản lý. hi đến thôn D, xã N, huy n , tỉnh ải Dư ng, Ch phát hi n thấy xe ô tô biển số 29C - 631.41 của anh Phạm Văn Tr, sinh năm 1992, trú tại thôn D, xã N, huy n , tỉnh ải Dư ng đang đỗ vỉa đường bên phải không có ai trông coi quản lý. Ch điều khiển xe mô tô đỗ sang bên trái xe ô tô, đầu xe mô tô quay ra hướng Quốc lộ 17 B, đuôi xe quay vào trong cầm theo 03 cà lê đi đến vị trí để bình ắc quy của xe ô tô tháo ốp nhựa bảo v bình ắc quy, thanh kim loại bắt giữ bình ắc quy, dây đi n nối các cực của 02 bình ắc quy xong dùng tay bê bình ắc quy của xe ô tô ra khỏi vị trí để bình ắc quy thì bị Tổ tuần tra Công an huy n im Thành kết hợp với Công an xã N, huy n im Thành phát hi n bắt quả tang. Thu giữ tại hi n trường 01 ốp nhựa bảo v bình ắc quy, 01 thanh kim loại, 01 chiếc bình ắc quy nhãn hi u Đongnai 12V-100Ah CMF 31S-800, màu đen, kích thước 22x32x17 cm, có tai cầm màu đỏ; 01 bình ắc quy nhãn hiêu ATLASBX DYNAMIC POWER, MF105D31FR 12V 22x32x17 cm, có tai cầm màu vàng, 03 cà lê, 01 túi vải màu tím than bên trong có0 1 kìm cộng lực, 01 mỏ lết 12-300, 01 kìm chết, 01 tành tạch, 01 đèn pin, 01 mỏ lết 6-150, 01 bình xịt h i cay và 01 xe mô tô nhãn hi u SYM - Angel 100, màu xanh, biển số 34L1-8960.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 13/ L- ĐĐG ngày 12/12/2021 của ội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huy n im Thành kết luận: 01 chiếc bình ắc quy nhãn hi u Đongnai 12V-100Ah CMF 31S-800, màu đen, kích thước (22x32x17)cm, có tai cầm màu đỏ có giá là 2.000.000 đồng (hai tri u đồng); 01 bình ắc quy nhãn hiêu ATLASBX DYNAMIC POWER, MF105D31FR 12V (22x32x17)cm, có tai cầm màu vàng có giá là 2.100.000 đồng (hai tri u một trăm nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản là 4.100.000 đồng (bốn tri u một trăm nghìn đồng.

Tại bản kết luận giám định số 979/ L/GĐ-SK-SM ngày 24/12/2021 của Phòng kỹ thuật Công an thành phố ải Phòng kết luận: Xe mô tô hai bánh, nhãn hi u SYM, mang B S: 34L1 -8960, có số khung RLGXA10CD4 360049 và số máy:VMEVA2360049 là số nguyên thủy của nhà sản xuất đóng, không phát hi n thấy có sự tẩy xóa hoặc sủa chữa. Biển kiểm soát trên là thật.

Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Ch đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài li u, chứng cứ khác có trong hồ s vụ án.

Cáo trạng số 24/CT-V S ngày 28/03/2022, Vi n iểm sát nhân dân huy n im Thành, tỉnh ải Dư ng truy tố Nguy n Văn Ch về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và xác định Vi n kiểm sát nhân dân huy n im Thành, tỉnh ải Dư ng truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng, đề nghị ội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n im Thành, tỉnh ải Dư ng giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị ội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguy n Văn Ch phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguy n Văn Ch từ 27 đến 30 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 12/12/2021.

Về hình phạt bổ sung: hông áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Ch .

Về trách nhi m dân sự: hông phải giải quyết.

Về vật chứng: Căn cứ a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. hoản 2 Điều 228 Bộ luật dân sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 kìm cộng lực, 01 mỏ lết 12-300, 01 kìm chết, 01 cà lê 10-12, 01 cà lê 12, 01 cà lê 13, 01 tành tạch, 01 đèn pin, 01 mỏ lết 6-150, 01 bình xịt h i cay ; 01 túi vải màu tím than kích thước 30x35cm; 01 biển số 34L1-8960.

Tiếp tục giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huy n im Thành thông báo công khai tìm chủ sở hữu sau một năm kể từ ngày 09/3/2022 mà không xác định được ai là chủ sở hữu thì phát mại sung quỹ Nhà nước đối với chiếc xe mô tô nhãn hi u SYM – Angel 100, s màu xanh, số khung RLGXA10CD4 360049, số máy VMEVA2360049.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và l phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQ 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự s thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, iểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại xuất trình tài li u, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật. hông có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo và các chứng cứ xác định tội:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng tại c quan điều tra và các tài li u chứng cứ khác có trong hồ s vụ án, có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 04 giờ ngày 12/12/2021, tại ven đường thuộc khu vực thôn D, xã N, huy n , tỉnh ài Dư ng, lợi dụng lúc vắng vẻ, không có chủ sở hữu xe ô tô tải biển số 29C -631.41 ở đó, Nguy n Văn Ch có hành vi đem theo và sử dụng 03 cà lê đi đến vị trí để bình ắc quy của xe ô tô tháo ốp nhựa bảo v bình ắc quy, thanh kim loại bắt giữ bình ắc quy, dây đi n nối các cực của 02 bình ắc quy xong dùng tay bê bình ắc quy của xe ô tô ra khỏi vị trí để bình ắc quy thì bị Tổ tuần tra Công an huy n im Thành kết hợp với Công an xã N, huy n im Thành bắt quả tang, thu giữ vật chứng; tổng giá trị tài sản Ch chiếm đoạt là 4.100.000 đồng

Bị cáo Nguy n Văn Ch là người có đầy đủ năng lực trách nhi m hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hi n hành vi phạm tội. Bị cáo có ý định đi trộm cắp tài sản từ trước và đã chuẩn bị sẵn công cụ, phư ng ti n phạm tội.

Bị cáo có hai tiền án: Tại bản án số 91/2009/ SST ngày 11/11/2009, Tòa án nhân dân huy n Tĩnh Gia, tỉnh Thành óa, xử phạt Nguy n Văn Ch 06 năm tù về tội: Trộm cắp tài sản, Ch chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/11/20213, chưa chấp hành xong các quyết định khác của Bản án; tại bản án số 45/2019/ SST ngày 02/8/2021, Tòa án nhân dân huy n An Dư ng, thành phố ải Phòng xử phạt Nguy n Văn Ch 15 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản với tình tiết tái phạm, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/8/2020, chấp hành xong án phí hình sự ngày 07/8/2020. Mặc dù đã bị Tòa án xét xử 2 lần về hành vi trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích nhưng Ch không coi đó là bài học mà vẫn tiếp tục thực hi n hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Do đó, hành vi phạm tội lần này của Nguy n Văn Ch thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự. Vì vậy, hành vi nêu trên của Nguy n Văn Ch đã phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng số 24/CT-V S ngày 28/03/2022, Vi n iểm sát nhân dân huy n im Thành, tỉnh ải Dư ng và lời buộc tội của vị đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n im Thành, tỉnh ải Dư ng tại phiên tòa, đã truy tố bị cáo Nguy n Văn Ch về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật ình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

ành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, làm mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý lo sợ mất tài sản trong quần chúng nhân dân.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhưng gây thi t hại không lớn, bị hại đã được nhận lại tài sản; bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn; nên áp dụng điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền sung quỹ Nhà nước, xét hoàn cảnh bị cáo hi n hoàn cảnh khó khăn do không có vi c làm và thu nhập nên không phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về quyết định hình phạt: Qua phân tích, đánh giá các chứng cứ, căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhi m hình sự, nhân thân, mục đích phạm tội của bị cáo, ĐXX xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người lư ng thi n, có ích cho xã hội và phòng chống tội phạm tư ng tự có thể xảy ra.

Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xác định 01 biển số 34L1-8960, 01 kìm cộng lực, 01 mỏ lết 12-300, 01 kìm chết, 01 cà lê 10-12, 01 cà lê 12, 01 cà lê 13, 01 tành tạch, 01 đèn pin, 01 mỏ lết 6-150, 01 bình xịt h i cay; 01 túi vải màu tím than kích thước 30x35cm là công cụ, phư ng ti n phạm tội của Ch , không có giá trị sử dụng, tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hi u SYM - Angel 100, màu xanh, biển số 34L1-8960 , Ch khai do Ch mượn của một người bạn cùng chấp hành án phạt tù tên Vũ Xuân B, sinh năm 1986 ở huy n G, tỉnh Hải Dư ng, C quan Cảnh sát điều tra tiến hành xác minh tại C quan Thi hành án hình sự Công an huy n G nhưng không có đối tượng nêu trên. Tại bản Kết luận giám định số 979/ L/GĐ-SK-SM ngày 24/12/2021 của Phòng kỹ thuật Công an thành phố Hải Phòng kết luận số khung, số máy là nguyên thủy của nhà sản xuất đóng, không phát hi n có sự tẩy xóa hoặc sửa chữa; biển số của xe là thật. Kết quả điều tra xác định xe mô tô có số khung RLGXA10CD4 360049 và số máy VMEVA2360049 biển số đăng ký là 34L6-3562, chủ sở hữu là Nguy n Thị A, sinh năm 1971, ở thôn A, xã T, huy n T, tỉnh Hải Dư ng; biển số 34L1-8960 là của xe mô tô nhãn hi u MAIESTY chủ sở hữu là anh Phạm Văn Th2, ở xã T, huy n K. Chị A và anh Th2 đều xác định đã bán xe, không nhớ bán cho ai, ở đâu. Ngày 09/03/2022 C quan Cảnh sát điều tra Công an huy n im Thành đã ra thông báo công khai tìm chủ sở hữu, nhưng đến nay chưa xác định được ai là chủ sở hữu chiếc xe mô tô và chiếc biển số nêu trên. Do vậy, cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước xe mô tô có nhãn hi u SYM - Angel 100, màu xanh, số khung RLGXA10CD4 360049 và số máy VMEVA2360049.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Phạm Văn Tr đã nhận lại tài sản và không yêu cầu Ch phải bồi thường nên không giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và l phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQ 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án. Bị cáo bị kết án, nên phải chịu án phí s thẩm hình sự.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật ình sự.

1/ Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nguy n Văn Ch phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguy n Văn Ch 27 ( ai mư i bẩy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 12/12/2021.

3/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 kìm cộng lực, 01 mỏ lết 12-300, 01 kìm chết, 01 cà lê 10-12, 01 cà lê 12, 01 cà lê 13, 01 tành tạch, 01 đèn pin, 01 mỏ lết 6-150, 01 bình xịt h i cay, 01 túi vải màu tím than kích thước 30x35cm, 01 biển số 34L1-8960.

Tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước xe mô tô có nhãn hi u SYM - Angel 100, màu xanh, số khung RLGXA10CD4 360049 và số máy VMEVA2360049.

(Theo Biên bản về vi c giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 09 giờ 30 phút ngày 31/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huy n im Thành).

4/ Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và l phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQ 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí và l phí Tòa án. Bị cáo Nguy n Văn Ch phải chịu 200.000đồng án phí s thẩm hình sự.

5/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ