- Tranh chấp gì? án hình sự — "cao thu h lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cao Thị Thu H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2022/HS - ST Ngày: 13 - 4 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hồng Lĩnh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bảy và ông Lê Văn Trọng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai – tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Luyến – Kiểm sát viên .
Trong ngày 12, 13 tháng 4 năm 2022, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2022/QĐXXST- HS ngày 31 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cao Thị Thu H, sinh ngày 01 tháng 8 năm 1984 tại huyện MH, tỉnh QB; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: thôn TL, xã HT, huyện MH, tỉnh QB; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Cao Minh H; sinh năm 1955 và bà Đinh Thị H; sinh năm 1961; anh chị em ruột: Có 4 người, bị cáo là con thứ nhất; có chồng Quách Văn Thái; sinh năm 1984; con : có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2009; tiền án: có 01 tiền án, ngày 25/9/2019 bị Tòa án nhân dân huyện MH, tỉnh QB xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/9/2019 ) về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; tiền sự: Không; Bị cáo H nay đang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/12/2021 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Bùi Khắc K, sinh năm 1995. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn BS, xã QS, thành phố TĐ, tỉnh NB.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 7 năm 2021, Cao Thị Thu H, nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua mạng xã hội facebook nên đã lấy hình ảnh và thông tin giã mạo của người khác trên mạng xã hội rồi tạo một tài khoản facebook mang tên “Út Nhỏ” kết bạn với tài khoản facebook tên “ K Bùi” do anh Bùi Khắc K, sinh năm 1995, trú tại thôn BS, xã QS, thành phố TĐ, tỉnh NB làm chủ tài khoản. Khi mới làm quen trên mạng facebook thì H giới thiệu với K tên là “Đỗ Hương”, sinh năm 1995, có nhà ở số 18, Lê Duẩn, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, H đang ở tại Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, là học viên của trường Học viện An ninh nhân dân khóa học năm 1993, đang công tác tại Bộ Công an và có một Công ty riêng tên là Công ty trách nhiệm Việt Nhật chuyên phân phối sữa TH và mua bán nông sản. Sau đó, H sử dụng số điện thoại 0899602160 tạo tài khoản zalo tên là “Lặng” kết bạn với zalo của K từ số điện thoại của K 0868863895 và H cho K số điện thoại 0705494471 để liên lạc điện thoại cho nhau. Sau một thời gian từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2021 Cao Thị Thu H và anh Bùi Khắc K làm quen, nói chuyện qua lại với nhau bằng mạng xã hội facebook và Zalo, từ đó K hoàn toàn tin tưởng vào những thông tin tài khoản giã mạo trên mạng facebook và Zalo do H lập ra là thật. Từ ngày 12 tháng 9 năm 2021 đến ngày 25 tháng 11 năm 2021, Cao Thị Thu H thông qua tên giã mạo trên Facebook và Zalo đã hỏi mượn “vay” K tiền với các lý do: Mua đất, trả tiền thuốc chữa bệnh, trả tiền ăn, tiền mua điện thoại, xử lý hàng hóa nông sản bị giữ ở cửa khẩu và nói anh K chuyển tiền vào số tài khoản 042705420001 ngân hàng Liên Việt Postbank của H, tổng số lần K chuyển cho H là 14 lần với số tiền 470.200.000đ (Bốn trăm bảy mươi triệu hai trăm nghìn đồng) cụ thể: Ngày 12/09/2021 anh Bùi Khắc K sử dụng số tài khoản 0691000343857, ngân hàng Vietcombank chuyển số tiền 9.000.0000đ (Chín triệu đổng) vào tài khoản 042705420001 của Cao Thị Thu H; Ngày 19/10/2021 K chuyển vào tài khoản của H số tiền 31.000.000đ (Ba mươi mốt triệu đồng). Ngày 25/10/2021 K chuyển vào tài khoản của H số tiền 6.100.000đ (Sáu triệu một trăm nghìn đồng); Ngày 27/10/202 K chuyển vào tài khoản của H 03 lần với tổng số tiền là 11.500.000đ (Mười một triệu năm trăm nghìn đồng); Ngày 01/11/2021 K chuyển vào tài khoản của H số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng); Ngày 03/11/2021 K chuyển vào tài khoản của H 02 lần với tổng số tiền là 3.900.000đ (Ba triệu chín trăm nghìn đồng); Ngày 08/11/2021 K chuyển vào tài khoản của H số tiền 87.000.000đ (Tám mươi bảy triệu đồng); Ngày 12/11/2021 K đã hai lần chuyển vào tài khoản của H với số tiền 285.000.000đ (Hai trăm tám mươi lăm mươi triệu đồng); Ngày 15/11/2021,K tiếp tục chuyển vào tài khoản của H số tiền 4.700.000đ (Bốn triệu bảy trăm nghìn đồng); Ngày 25/11/2021, K chuyển vào tài khoản của H số tiền 27.000.000đ (Hai mươi bảy triệu đồng). Những lần chuyển tiền đến số tài khoản của H thì anh K thực H chuyển tiền trên ứng dụng SmartBanking của ngân hàng Vietcombank và địa điểm chuyển tiền xảy ra ở nhiều địa bàn khác nhau của thành phố Hà Nội và thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An. Vào ngày 19/10/2021 có người chuyển cho H 31.000.000đ, H yêu cầu chuyển tiền vào tài khoản của anh K, sau đó được anh K giữ lại. Còn lại số tiền 439.200.000đ (Bốn trăm ba mươi chín triệu hai trăm nghìn đồng) đó là tiền mà Cao Thị Thu H đã thực H hành vi lừa đảo để chiếm đoạt của Bùi Khắc K, các lần chuyển tiền và rút tiền tại các ngân hàng giữa K và H đều có bản sao kê của các ngân hàng. Sau khi thực H hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Bùi Khắc K xong thì Cao Thị Thu H tắt máy điện thoại, không liên lạc với anh K nữa. Đến ngày 06/12/2021,anh Bùi Khắc K không liên lạc được với Cao Thị Thu H nên đã đi vào tỉnh Nghệ An để tìm hiểu, xác minh thì biết người có ảnh trong tài khoản facebook mà H lập là giả mạo, không phải là người nói chuyện và có quan hệ yêu đương như trên với K nên biết mình đã bị Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Sau đó, K đã tìm hiểu zalo, tài khoản ngân hàng trên thì biết người Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của K là Cao Thị Thu H, sinh năm 1984, trú tại xã HT, huyện MH, tỉnh QB nên đã đến trình báo với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An để điều tra xử lý theo quy định pháp luật.
Tổng số tiền mà Cao Thị Thu H chiếm đoạt được của anh Bùi Khắc K là 439.200.000đ (Bốn trăm ba mươi chín triệu hai trăm nghìn đồng).Cao Thị Thu H đã tiêu xài cá nhân hết.
Về vật chứng vụ án và tài sản liên quan:
01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn H Vivo Y21 màu xanh nhạt, số IMEL 1: 861428057439813, số IMEL 2: 861428057439805, bên trong có gắn thẻ sim có số thuê bao 0705494471, điện thoại đã qua sử dụng của Cao Thị Thu H, được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự để quản lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự:
Anh Bùi Khắc K yêu cầu Cao Thị Thu H bồi thường số tiền 439.200.000đ (Bốn trăm ba mươi chín triệu hai trăm nghìn đồng) là số tiền H đã chiếm đoạt.
Cáo trạng số 24/CT-VKSHM ngày 11/3/2022 của VKS nhân dân thị xã Hoàng Mai đã truy tố bị cáo Cao Thị Thu H để xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện VKS nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Cao Thị Thu H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS xử phạt bị cáo Cao Thị Thu H mức án từ 8 năm 06 tháng tù đến 9 năm tù.
- Căn cứ vào Điều 56, Điều 65 của BLHS. Buộc bị cáo Cao Thị Thu H phải chấp hành hình phạt 03 năm tù (cho hưởng án treo thời gian thử thách 5 năm) của bản án số 25/2019/HS-ST ngày 25/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện MH, tỉnh QB.
Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án từ 11 năm 6 tháng đến 12 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
Về vật chứng vụ án: Tịch thu sung ngân sách nhà nước chiếc điện thoại di động thu giữ của Cao Thị Thu H bị cáo dùng vào việc phạm tội.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Cao Thị Thu H có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Khắc K số tiền 439.000.000đ
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự đối với số tiền bồi thường trong vụ án hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Cao Thị Thu H khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng truy tố. Bị cáo không có tranh luận với đại diện VKS về tội danh, các tình tết tăng nặng giảm nghẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Hoàng Mai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực H đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực H đều hợp pháp.
. Tại phiên toà, bị cáo Cao Thị Thu H đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các giao dịch chuyển tiền của bị hại cho bị cáo và các tin nhắn bằng tài khoản giả mạo của Cao Thị Thu H với anh Bùi Khắc K, và các tài liệu chứng cứ khác. Vì vậy, có căn cứ khẳng định: Do có ý định chiếm đoạt tài sản của người khác từ trước nên Cao Thị Thu H đã lập nên các tài khoản mang tên giả mạo “Đỗ Hương” trên hệ thống mạng facebook và tên “Lặng” trên Zalo để làm quen kết bạn với anh Bùi Khắc K, sinh năm 1995, trú tại thôn BS, xã QS, thành phố TĐ, tỉnh NB. Qua thời gian nhắn tin làm anh K hoàn toàn tin tưởng vào các thông tin giả mạo. Bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối vay tiền anh K với các lý do: Mua đất, trả tiền thuốc chữa bệnh, trả tiền ăn, tiền mua điện thoại, xử lý hàng hóa nông sản bị giữ ở cửa khẩu và nói anh K chuyển tiền vào số tài khoản 042705420001 ngân hàng Liên Việt Postbank của H. Anh K tưởng thật nên đã 14 lần chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng Liên Việt Postbank của H, H đã chiếm đoạt của K với tổng số tiền 439.200.000đ (Bốn trăm ba mươi chín triệu hai trăm nghìn đồng) để tiêu xài cá nhân. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bi cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của BLHS như cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội.
. Bị cáo H nhận thức rõ những việc mình làm là vi phạm pháp luật. Bản thân bị cáo H từng bị Tòa án nhân dân huyện MH tỉnh QB xử phạt về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” cho hưởng án treo nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục đi vào con đường phạm tội. Chỉ vì cần tiền tiêu xài nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của bị hại bằng cách sử dụng tên và hình ảnh giả mạo tạo lòng tin để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Xét hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, thể H sự liều lĩnh, xem thường pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất lòng tin giữa con người với nhau, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hậu quả bị cáo đã gây ra. Cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mới đủ nghiêm và răn đe phòng ngừa chung tội phạm.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51.
. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 174 BLHS năm 2015 người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng. Hội đồng xét xử xét căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ và lời khai tại phiên tòa bị cáo không có thu nhập, không có tài sản. Xét không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
. Về tổng hợp hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo Cao Thị Thu H bị Tòa án nhân dân huyện MH tỉnh QB xử phạt 3 năm tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 05 năm theo bản án số 25/2019/HS-ST ngày 25/9/2019. Bị cáo phạm tội mới trong thời gian thử thách án treo. Căn cứ vào khoản 5 Điều 65 của BLHS. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 03 năm tù của bản án số 25/2019/HS-ST và tổng hợp hình phạt của bán án này buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Bùi Khắc K yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 439.200.000đ. Tại phiên tòa, bị cáo Cao Thị Thu H thống nhất bồi thường thiệt hại cho bị hại theo đúng số tiền mà bị hại yêu cầu. HĐXX căn cứ Điều 48 của BLHS, Điều 589 của BLDS buộc bị cáo bồi thường thiệt hại cho anh Bùi Khắc K số tiền 439.200.000đ.
. Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra có quan điều tra có thu giữ vật chứng là 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn H Vivo Y21 màu xanh nhạt, số IMEL 1: 861428057439813, số IMEL 2: 861428057439805, bên trong có gắn thẻ sim có số thuê bao 0705494471, điện thoại đã qua sử dụng của Cao Thị Thu H. Đây là phương tiện bị cáo thực H hành vi lừa đảo. Do đó, HĐXX xét thấy cần phải tịch thu sung ngân sách nhà nước.
. Về án phí: Buộc bị cáo Cao Thị Thu H phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong vụ án hình sự là 21.960.000đ.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng báo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56; Điều 65 của BLHS.
Tuyên bố bị cáo Cao Thị Thu H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Cao Thị Thu H 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về tổng hợp hình phạt: Buộc bị cáo Cao Thị Thu H phải chấp hành hình phạt 03 năm tù của bán án số 25/2019/HS-ST ngày 25/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện MH, tỉnh QB. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung hình phạt cho cả hai bản án là 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/12/2021. Trừ cho bị cáo thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/5/2019 đến ngày 13/6/2019 theo bản án số 25/2019/HS-ST ngày 25/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện MH, tỉnh QB.
4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 của BLHS, Điều 584, 585, 589 của BLDS. Buộc bị cáo Cao Thị Thu H có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại anh Bùi Khắc K số tiền 439.200.000đ (Bốn trăm ba chín triệu hai trăm nghìn đồng)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời H thi hành án được thực H theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn H Vivo Y21 màu xanh nhạt, số IMEL 1: 861428057439813, số IMEL 2: 861428057439805, bên trong có gắn thẻ sim có số thuê bao 0705494471, điện thoại đã qua sử dụng của Cao Thị Thu H. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/3/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Hoàng Mai và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai.
6. Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và 21.690.000đ (Hai mốt triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự trong vụ án hình sự.
7. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND thị xã Hoàng Mai; - THADS; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKS tỉnh Nghệ An; - Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thi xã Hoàng Mai; - Trại tạm giam Công an Nghệ An; - Lưu, HS; THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Văn Bảy Lê Văn Trọng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hồng Lĩnh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hồng Lĩnh |