- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án HSST Nguyễn Công Duy S - phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy Công S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2022/HS-ST Ngày 10 tháng 5 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC - TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bình Thuận
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Khảm
2. Ông Đoàn Văn Đoan
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc.
- Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2022, tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Duy Công S, sinh ngày 06 tháng 6 năm 2002; Sinh trú quán: Thôn M, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy Ngọc, sinh năm 1971 và bà Mạc Thị B, sinh năm 1975; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Tiền sử, ngày 17/7/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đến nay đã được xóa án tích; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2022 đến nay,(có mặt).
Bị hại: Anh Kiểu Văn H, sinh năm 1991; trú tại: Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc,(vắng mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1/Anh Vũ Mạnh H, sinh năm 2001; trú tại: Tổ dân phố Lạc Ý, phường Đồng Tâm, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc,(vắng mặt).
2/Bà Mạc Thị B, sinh năm 1975; trú tại: Thôn M, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc,(có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 06/9/2021, Nguyễn Duy Công S đang ở tại nhà mình thì có anh Kiểu Văn H nhắn tin từ tài khoản zalo của anh H đến tài khoản Zalo của S để hỏi “Chú biết chỗ nào cắm giấy tờ xe không, anh cắm lấy 30 triệu”, rồi S hỏi anh H xe gì, có chính chủ của anh H không thì anh H nói xe của vợ H, xe Lead đời mới. Lúc đó, do S đang gặp khó khăn về tài chính nên khi anh H nhắn tin hỏi cầm cố giấy tờ Xe như trên thì S đã nảy sinh ý định dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt chiếc xe mô tô của anh H, mang đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân. S bảo anh H S có thể cầm cố giấy tờ xe được 25.000.000 đồng với lãi suất là 7000 đồng/ 1.000.000 đồng/ 01 ngày, bản thân S biết rõ nếu chỉ cắm giấy tờ xe thì không có ai nhận mức tiền như vậy, S tự nghĩ ra mức tiền cầm cố giấy tờ xe trên, không thỏa thuận hay trao đổi với bất kỳ ai về việc này, mục đích S nói như vậy để anh H tin tưởng S có khả năng cầm cố giấy tờ xe được số tiền như anh H đang mong muốn. Sau đó anh H bảo mức cầm cố như vậy là đắt và bảo S chỉ cầm cố với mức 4000 đồng/ 1.000.000 đồng/ 01 ngày thì S đồng ý. Đồng thời, S bảo anh H nếu chỉ cầm cố giấy tờ xe thì khi đi cầm cố phải mang xe đến cho họ kiểm tra, nếu đúng xe họ mới cho cầm cố thì anh H đồng ý. Do nắm bắt được tâm lý, nhu cầu của anh H muốn cầm cố giấy tờ xe để lấy tiền luôn nên S đã liên tục nhắn tin, gọi video nhiều lần qua ứng dụng zalo cho anh H và đưa ra thông tin gian dối là sắp đi chơi cùng bạn ở Tam Đảo đến buổi tối mới về nhằm mục đích thúc giục anh H mang xe mô tô, giấy tờ xe đến nhà S ngay, nếu không sẽ không gặp được S và không cầm cố được giấy tờ xe. Sau đó, anh H nhắn tin bảo “thế tý nữa anh lên” và hỏi S “có chắc chắn cầm cố giấy tờ xe được 25.000.0000đ không, không lên lại mất công” thì S bảo được. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, anh H một mình điều khiển xe mô tô BKS: 88F1 - 556.XX đi đến gặp S tại nhà của Nguyễn Khắc T theo như vị trí định vị mà S đã gửi cho anh H qua zalo trước đó. Khi gặp anh H, S nói dối đây là nhà của S rồi cả hai đi vào phòng khách tầng 1 nói chuyện còn T ở trên tầng 2. S hỏi anh H giấy tờ xe đâu thì anh H đưa cho S xem giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô. S kiểm tra thì thấy giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô này mang tên Hồ Thị Xuân, S bảo anh H “em chưa có gì để tin đây là xe của vợ anh” thì anh H đưa cho S xem ảnh chụp giấy đăng ký kết hôn giữa anh H và chị X. Thấy vậy, S đồng ý cầm cố hộ giấy tờ xe cho anh H, S đề nghị mượn xe mô tô BKS: 88F1 - 556.XX của anh H với lý do đi phô tô giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, giấy đăng ký kết hôn của anh H và mang xe mô tô đến nơi cầm cố để họ kiểm tra, đối chiếu giữa xe mô tô và giấy tờ xe. S bảo anh H ở lại nhà của T đợi, sau khi cầm cố giấy tờ xe xong S sẽ mang tiền và xe về trả lại cho anh H thì anh H đồng ý, giao xe mô tô trên và giấy tờ xe cho S quản lý. Thực tế, S không đi phô tô các giấy tờ trên mà điều khiển xe mô tô BKS: 88F1 - 556.XX, cầm theo giấy đăng ký xe này đi thẳng đến cửa hàng mua bán trao đổi điện thoại cũ mới “H Luxury” ở thôn D, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc do Vũ Mạnh H làm chủ. S cầm cố chiếc xe mô tô trên và giấy tờ xe cho anh Vũ Mạnh H với số tiền là 25.000.000 đồng, S và anh Vũ Mạnh H thỏa thuận với nhau số tiền lãi là 4000 đồng/ 1.000.000 đồng/ 01 ngày, tức một tháng là 3.000.000đ nên anh Vũ Mạnh H đã lấy tiền lãi trước một tháng và chỉ đưa cho S số tiền 22.000.000 đồng tiền mặt. Tuy nhiên, đến rạng sáng ngày 07/9/2021 thì anh Vũ Mạnh H đã chuyển số tiền 3.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng của anh H đến tài khoản ngân hàng của S và không lấy tiền lãi nữa. Do đợi chờ lâu nhưng không thấy S về nên anh Kiều Văn H gọi điện thoại cho S nhưng S không nghe máy và nhắn tin lại bảo anh H cung cấp số tài khoản ngân hàng của mình để S chuyển tiền cầm cố giấy tờ xe và bảo anh H đi lên quán gà Mạnh Hoạch ở thị trấn Yên Lạc để đợi S về nhưng thực tế S không đi về địa điểm này, mục đích S nhắn tin như vậy để anh H không nghi ngờ S chiếm đoạt xe mô tô của anh H. Tuy nhiên, anh H tiếp tục gọi điện thoại cho S thì S không nghe máy và tắt nguồn điện thoại. Do nghi ngờ S đã lừa mình nên anh H đã đến Công an xã Y trình báo sự việc trên và đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra Nguyễn Duy Công S khai nhận: Sau khi có được số tiền 22.000.000 đồng từ việc cầm cố xe mô tô BKS: 88F1 - 556.XX của anh Kiều Văn H, khoảng 16h00 cùng ngày, S sử dụng số điện thoại 086.981.783 của mẹ S là bà Mạc Thị B để gọi đến tổng đài taxi Vĩnh Phúc (số điện thoại 0211.3666.666) thuê xe đi từ của hàng điện thoại “H Luxury” của anh Vũ Mạnh H nơi S cầm cố xe đến của hàng mua bán điện thoại Quang Hà ở khu vực ngã tư Tam Dương, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc để nhờ một người nam giới khoảng 30 tuổi (là chủ quán điện thoại) chuyển khoản số tiền 7.000.000đ từ tài khoản ngân hàng của người này vào tài khoản game của S trên trang web “g88.vin” để đánh bạc trên mạng (đánh tài – xỉu), và đưa cho người đàn ông số tiền 7.050.000đ, trong đó 7.000.000đ là số tiền sơn nhờ chuyển khoản và 50.000đ là tiền phí chuyển giúp. Sau đó S tiếp tục đi taxi đến nhà nghỉ Mạnh H ở TDP Vĩnh Thịnh Y, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc và trả tiền taxi hết 150.000đ. Tại đây, S thuê phòng nghỉ 301 và nhờ Trần Thị Hương là quản lý nhà nghỉ chuyển số tiền 1.500.000 đồng từ tài khoản ngân hàng của Hương đến tài khoản game của S trên trang web “g88.vin” để đánh tài - xỉu, sau đó S trả tiền mặt cho Hương và thanh toán tiền phòng nghỉ hết 400.000 đồng. Trong khoảng thời gian ở nhà nghỉ, S đã chơi thua hết số tiền nạp vào tài khoản game. Khoảng hơn 01 giờ ngày 07/9/2021, anh Vũ Mạnh H (chủ quán điện thoại H Luxury) chuyển khoản số tiền 3.000.000đ là tiền anh H cắt lãi khi S cầm cố xe mô tô BKS: 88F1 – 556.XX đến số tài khoản 1058.7346.3575, ngân hàng ViettinBank của S do anh H không lấy lãi nữa. Sau khi nhận được số tiền này, S đi ra cây ATM gần nhà nghỉ rút 3.000.000đ trên rồi sử dụng điện thoại gọi đến tổng đài taxi Thiên Đức là 0211.356.56.56, rồi thuê xe taxi của Lê Trọng Đ. Khi Đ lái xe taxi đến đón S thì S đưa cho Đ số tiền 500.000 đồng và nhờ Đ đi đến cửa hàng game để nạp tiền vào tài khoản game của S thì Đ đồng ý. Sau đó, Đ đi đến một cửa hàng game ở đường Tôn Đức T thuộc phường K, thành phố V và nạp số tiền 450.000 đồng vào tài khoản game của S, còn 50.000 đồng là tiền phí di chuyển thì Đ giữ. Sau đó, S đi đến nhà nghỉ Hương Ngân ở Ngõ 3 đường Nguyễn Tất H, thành phố V, Vĩnh Phúc để thuê phòng nghỉ và thanh toán hết 300.000đ. Ngày 09/9/2021, S đi đến nhà nghỉ T ở TDP Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc thuê phòng nghỉ 303 tại đây đến buổi tối ngày 11/9/2021. S nhờ Nguyễn Thị Thảo là quản lý nhà nghỉ chuyển số tiền 1.500.000 đồng từ tài khoản ngân hàng của Thảo đến tài khoản game của S trên trang web “g88.vin” để đánh tài- xỉu, sau đó S trả tiền mặt cho Thảo và thanh toán tiền phòng nghỉ hết 600.000 đồng. Số tiền còn lại S dùng để thuê xe taxi đi đến nhiều nơi thuộc thành phố V, huyện Yên Lạc, huyện Vĩnh Tường và tiêu xài cá nhân hết.
Tại văn bản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 28/9/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Lạc kết luận chiếc xe mô tô nêu trên trị giá 42.000.000đồng.
Đối với Vũ Mạnh H quá trình điều tra làm rõ: Khi Nguyễn Duy Công S đem xe mô tô BKS 88F1 – 556.XX đến cầm cố, H có kiểm tra giấy tờ xe và phát hiện xe không phải chính chủ của S, tuy nhiên S đã nói dối đây là xe của chị gái và đưa giấy chứng nhận đăng ký kết hôn cho H xem để tạo lòng tin. Sau khi phát biết được đây là xe mô tô do S lừa đảo chiếm đoạt mà có thì ngày 06/9/2021 Vũ Mạnh H đã trao trả toàn bộ giấy tờ xe, đăng ký xe, giấy bán xe cho Cơ quan điều tra để làm rõ sự việc nên hành vi nêu trên của Vũ Mạnh H không cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Ngoài ra, S trình bày trong khoảng thời gian từ buổi chiều ngày 08/9/2021 đến rạng sáng ngày 09/9/2021, S cùng Nguyễn Phương Y, sinh năm 1985 trú tại thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc và một số người khác hát karaoke tại quán karaoke “G 2” ở TDP Trại cúp thị trân B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, tại đây S có đưa cho Y 7.500.000đ để trả tiền hát. Cơ quan Cảnh sat điều tra Công an huyện Yên Lạc đã nhiều lần mời Nguyễn Phương Y đến trụ sở cơ quan Công an để làm việc nhưng do Y không có mặt tại địa phương, gia đình Y không biết hiện tại Y đang làm gì, ở đâu và không liên lạc được với Y nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Lạc chưa làm việc được với Nguyễn Phương Y, khi nào làm rõ nếu xác định có hành vi vi phạm pháp luật sẽ xử lý sau.
Quá trình điều tra vụ án, Nguyễn Duy Công S khai nhận đánh tàixỉu là một hình thức đánh bạc trên mạng Internet. Do địa điểm S thực hiện hành vi đánh bạc trên mạng (đánh tài - xỉu) thuộc địa phận phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc và thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, vì vậy cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Lạc đã có Công văn chuyển nội dung tin báo tố giác tội phạm trên đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V và cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường để kiểm tra xác minh theo quy định pháp luật.
Đối với xe mô tô BKS 88F1 – 556.XX nhãn hiệu Honda, loại xe Lead, màu sơn xanh nâu và Giấy chứng nhận đăng ký xe đã được trả lại cho anh Kiều Văn H, sau khi nhận lại xe anh H không có yêu cầu đề nghị gì.
Đối với 01 bản phô tô giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 88F1-556.XX, 01 giấy bán, cho, tặng xe mô tô, 25 tờ giấy A4 in nội dung tin nhắn, cuộc gọi trong ứng dụng zalo giữa Nguyễn Duy Công S và anh Kiều Văn H chuyển theo hồ sơ vụ án.
Vật chứng vụ án: Gồm 01 điện thoại di động Iphone 6s, bên trong lắp 01 sim 0702.020.986 và 01 điện thoại di động Iphone 7, bên trong lắp 01 sim 0796.047.233 thu giữ của Nguyễn Công Duy S.
Về dân sự: Anh Kiều Văn H đã được trả lại xe mô tô và giấy tờ xe, anh Vũ Mạnh H đã nhận lại số tiền 25.000.000 đồng đều không có yêu cầu đề nghị gì khác.
Tại cáo trạng số: 17/CT-VKS ngày 01 tháng 4 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc truy tố Nguyễn Duy Công S về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc luận tội đối với bị cáo Nguyễn Duy Công S và giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Duy Công S từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam (ngày 11/01/2022), miễn hình phạt bổ sung. Và đề nghị xử lý vật chứng vụ án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Lạc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, phù hợp lời khai của bị hại tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng và các tài liệu khác đã được thu thập đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Ngày 06/9/2021, Nguyễn Duy Công S đã có hành vi chiếm đoạt tài sản của anh Kiều Văn H là 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Lead, màu sơn: xanh nâu, BKS: 88F1- 556.XX, trị giá khoảng 42.000.000 đồng.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Do vậy, hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Khoản 1 Điều 174 quy định: Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000đồng đến dưới 50.000.000đồng … thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do vậy cần phải xử lý nghiêm để cải tạo riêng đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Về nhân thân, bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị Tòa án xử phạt nhưng không lấy đó làm bài học để rút kinh nghiệm cho bản thân mà còn tiếp tục phạm tội nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đó là tích cực khắc phục hậu quả xẩy ra và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi, nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập và không có tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Kiều Văn H đã nhận lại Giấy chứng nhận đăng ký xe và xe mô tô BKS: 88F1- 556.XX, anh Vũ Mạnh H đã nhận lại 25.000.000 đồng đều không có yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động Iphone 6s bên trong lắp sim 0702.020.986 là điện thoại S dùng để trao đổi với anh Kiều Văn H là công cụ phương tiện liên quan đến việc phạm tội của S cần tịch thu phát mại, sung quỹ Nhà nước. Đối với chiếc điện thoại Iphone 7 bên trong lắp sim 0796.047.233 thu giữ trên người của Nguyễn Duy Công S không liên quan đến việc phạm tội của S nên cần trả lại cho S nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với Vũ Mạnh H khi S đem xe mô tô BKS 88F1 – 556.XX đến cầm cố, Vũ Mạnh H không biết xe mô tô này do S phạm tội mà có nên cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý Vũ Mạnh H về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là phù hợp pháp luật.
Quá trình điều tra Nguyễn Duy Công S khai nhận đánh tài - xỉu trên mạng Internet. Do địa điểm S thực hiện hành vi đánh bạc trên mạng (đánh tài - xỉu) thuộc địa phận phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc và thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Lạc đã có Công văn chuyển nội dung tin báo tố giác tội phạm trên đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V và cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường để kiểm tra xác minh là đúng quy định pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy Công S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Công S 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính
từ ngày tạm giam (ngày 11/01/2022). Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại máy Iphone 6s, bên trong lắp 01 sim điện thoại số: 0702.020.986 của Nguyễn Duy Công S phát mại sung quỹ Nhà nước. Trả lại cho Nguyễn Duy Công S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại máy Iphone 7, bên trong lắp 01 sim điện thoại số: 0796.047.233 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án,(theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Lạc ngày 04/5/2022).
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Duy Công S phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận -VKSND huyện Yên Lạc; -VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - Công an huyện Yên Lạc; - Chi cục THADS huyện Yên Lạc; - Bị cáo, bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: - Lưu hồ sơ, Văn phòng. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Nguyễn Bình Thuận |