- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo lê Hoàng H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2022/HS-ST Ngày 04-8-2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Minh Tuấn.
Ông Lê Hoàng Điệt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Võ Thanh Tuấn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2022; Thông báo về việc thay đổi lịch xét xử số: 259/TB-TA ngày 25 tháng 7 năm 2022, đối với bị cáo:
Lê Hoàng H, sinh ngày 14-4-2001, tại xã Mỹ P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú ấp Phước A, xã Mỹ P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Hoàng K, sinh năm: 1970 và bà: Lê Thị L, sinh năm: 1975; anh, chị em ruột: có 04 người, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08 tháng 02 năm 2022; Đến ngày 10 tháng 7 năm 2022 bị cáo bị tạm giữ; Đến ngày 11 tháng 7 năm 2022 bị cáo bị bắt, tạm giam đến nay (có mặt).
- Bị hại: Ông Nguyễn Quốc L; Nơi cư trú: Ấp Phước A, xã Mỹ P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Kiều T; nơi cư trú:
Ấp Tân P, xã Long H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Mai Thị L; nơi cư trú: Ấp Tân P, xã Long H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
- Người làm chứng: Bà Lê Thị H; nơi cư trú: Ấp Phước A, xã Mỹ P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 03 giờ 00 phút sáng ngày 26 tháng 12 năm 2021, bị cáo Lê Hoàng H biết nhà ông Nguyễn Quốc L, sinh năm 1994, ngụ ấp Phước A, xã Mỹ P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, không có ai ở nhà nên Bị cáo H nảy sinh ý định vào nhà bị hại Nguyễn Quốc L để lấy trộm tài sản. Bị cáo H một mình đi bộ từ nhà của bị cáo H đến nhà bị hại L rồi lẻn vào nhà (do cửa nhà sau không khóa). Bị cáo H trộm được số tài sản gồm: 01 Laptop; 01 bộ sạc Laptop; 01 đôi dép quai hậu; 01 cái cặp rồi bỏ Laptop vào cặp; 01 cái áo sơ mi màu trắng; 01 cái quần tây vải màu đen. Bị cáo H đem những tài sản lấy trộm được về nhà của bị cáo Hảo. Đến khoảng 05 giờ 00 phút sáng cùng ngày H lên xe ôm của anh Nguyễn Văn H ngụ ấp Phước An A, xã Mỹ Phước, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng chở về nhà của Bà Trần Thị Kiều T thuộc Ấp Tân P, xã Long H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, cất giấu số tài sản trên trong phòng ngủ nhà của bà Trang. Đến ngày 30-12-2021, do nghi ngờ bị cáo Lê Hoàng H lấy trộm tài sản nên ông Nguyễn Quốc L đến Công an xã Mỹ Phước, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng, trình báo sự việc. Tại Cơ quan điều tra Bị cáo Hđã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 01/KLĐGTS.HĐ-ĐGTS ngày 24-01-2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng, kết luận tổng giá trị tài sản được định giá là 4.037.000 đồng, cụ thể như sau:
- 01 (một) Laptop nhãn hiệu Lenovo màu đen, màn hình 15 inch core i5, ram 2Gb, 02 ổ đĩa cứng mỗi ổ đĩa 185Gb, mua vào năm 2007 với giá 12.500.000 đồng. Giá khảo sát thị trường ngày 26-12-2021: 12.190.000 đồng. Giá trị còn lại: 30%. Thành tiền: 12.190.000 đồng x 30% = 3.657.000 đồng.
- 01 (một) cái cặp màu đen đã qua sử dụng và 01 bộ sạc Laptop được tặng năm 2007, đây là hàng tặng phẩm kèm theo sau khi mua Laptop nên Hội đồng định giá thống nhất không tính giá trị.
- 01 cái áo sơ mi màu trắng và 01 cái quần tây màu đen đã qua sử dụng, mua vào ngày 25-12-2021 với giá 420.000 đồng, giá trị còn lại 50%, thành tiền: 420.000 đồng x 50% = 210.000 đồng.
- 01 đôi dép quai hậu màu xanh đã qua sử dụng, mua vào ngày 25-12-2021 với giá 340.000 đồng, giá trị còn lại 50%. Thành tiền: 340.000 đồng x 50% = 170.000 đồng.
Về vật chứng của vụ án: Không có.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Quốc Lộ đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề cập xử lý.
Tại bản cáo trạng số: 08/CT-VKS-MT ngày 16-3-2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Lê Hoàng H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trên, thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng tội.
Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Hoàng H và đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 12 tháng tù. Ngoài ra, bị cáo còn phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bà Trần Thị Kiều T, sau khi Bị cáo Hmang tài sản đến gửi thì bà Trang không biết đây là tài sản do trộm mà có nên đề nghị không xem xét xử lý với Bà Trần Thị Kiều T.
Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo không có ý kiến bào chữa.
Bị cáo Lê Hoàng H nói lời nói sau cùng: Bị cáo Hnhận thấy hành vi của bị cáo là sai nên bị cáo phải chịu hình phạt của pháp luật, bị cáo hứa không sai phạm và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
Về tố tụng:
Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại Nguyễn Quốc L; người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bà Mai Thị L; người làm chứng Bà Lê Thị H không có lý do. Xét thấy, trong quá trình điều tra thì những người nêu trên đã có lời khai rõ ràng và việc vắng mặt cũng không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ vào khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt đối với những người nêu trên.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Tú, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại đối với hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Tú, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Lê Hoàng H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo H hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo H tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại và những người làm chứng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra đã thu thập được nên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 03 giờ 00 phút sáng ngày 26-12-2021, bị cáo Lê Hoàng H biết nhà của bị hại Nguyễn Quốc L không có ai ở nhà nên Bị cáo Hnảy sinh ý định vào nhà bị hại L để lấy trộm tài sản. Bị cáo H trộm được các tài sản gồm: 01 Laptop; 01 bộ sạc Laptop; 01 đôi dép quai hậu; 01 cái cặp rồi bỏ Laptop vào cặp; 01 cái áo sơ mi màu trắng; 01 cái quần tây vải màu đen. Bị cáo H đem những tài sản lấy trộm được về nhà của bị cáo Hảo. Sau đó Bị cáo Hđến nhà của Bà Trần Thị Kiều T và giấu số tài sản trên trong phòng ngủ của bà Trang, khi giấu số tài sản trên tại nhà của bà Trang thì bị báo Hảo không nói với bà Trang tài sản do trộm mà có nên bà Trang không biết đây là tài sản Bị cáo Htrộm của bị hại L. Mục đích Bị cáo H trộm số tài sản của bị hại L để nhằm tiêu xài cá nhân.
Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Hoàng H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú truy tố bị cáo Lê Hoàng H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Bị cáo Lê Hoàng H là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác là bất khả xâm phạm, nhưng chỉ vì ham muốn có tiền tiêu xài mà bị cáo cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác do pháp luật hình sự bảo vệ, đặc biệt là ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình an ninh, trật tự ở địa phương, làm cho quần chúng hoang mang. Vì vậy, cần thiết xử phạt tù thật nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo để bị cáo có thời gian học tập, cải tạo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, biết tôn trọng pháp luật.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho Bị cáo Hnhư sau: Xét về nhân thân, Bị cáo Hchưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội bị cáo H thành khẩn khai báo. Tài sản đã kịp thời thu hồi trả cho bị hại Lnên Bị cáo Hphạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Bị cáo H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú về tội danh, mức hình phạt, áp dụng pháp luật, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Quốc L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xử lý xong, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bị cáo Lê Hoàng H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Xử phạt bị cáo Lê Hoàng H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 10 tháng 7 năm 2022.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Quốc L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo Lê Hoàng H bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
3. Về vật chứng: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4. Bị cáo Lê Hoàng H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.
6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án Dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án Dân sự năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án Dân sự năm 2014.
| Nơi nhận: - Bị cáo, các đương sự; - VKSND huyện Mỹ Tú; - CAND huyện Mỹ Tú (CQTHAHS, Đội điều tra); - TAND tỉnh Sóc Trăng (Phòng KTNV&THA); - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thu Hồng |