vanban.org

Bản án 20/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 29/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố các bị cáo B i Đ c V, Quách Văn L phạm tội “Trộm c p tài sản”. p dụng khoản 1 điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo B i Đ c Việt 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn t t nh từ ngày tạm giữ, tạm giam 22/1… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Việt - Lân - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
TỈNH H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2022/HS-ST
Ngày 26/5/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đà Giang

Các Hội thẩm nhân dân: ng Ng Trung T nh

Ông Quách Ng c nh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đ Thị Thanh Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh H tham gia phiên tòa: Bà B i Thanh Lương - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2022 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh H xét xử sơ thẩm c ng khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 04 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số:18/2022/QĐXXST-HS ngày11 tháng 5 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Bùi Đức V, sinh ngày 07/04/2000, tại: K, HB.

Nơi cư trú: xóm Chạo, xã Cuối Hạ, huyện K, tỉnh HB.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Mường; Giới t nh: nam; T n giáo: Kh ng; Quốc tịch: V Nam; Con ông: B i Văn V, sinh năm 1970; Con bà: B i Thị P, sinh năm 1974; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án: Ngày 10/6/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Hà Nội xử phạt 15 tháng t về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 59/2020/HSST;

Tiền sự: Kh ng.

Nhân thân: ngày 11/12/2018 bị C ng an huyện K, tỉnh Hòa Bình ra quyết định xử phạt vi phạm hành ch nh số 04/QĐ-XPHC về hành vi cố ý gây thương t ch, đã chấp hành xong ngày 24/4/2019.

Bị b t, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2021 tại Nhà tạm giữ của Công an huyện K, tỉnh Hòa Bình cho đến nay; có m t tại phiên tòa.

2. Quách Văn L, sinh ngày 21/8/2000, tại K, HB.

Nơi cư trú: Xóm Th ng, xã Cuối Hạ, huyện K, tỉnh HB.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Mường; Giới t nh: nam; T n giáo: Kh ng; Quốc tịch: V Nam; Con ông: Quách Công Liên, sinh năm 1967; con bà: B i Thị Phấn, sinh năm 1965; vợ, con: Chưa có.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 31/8/2021 bị C ng an xã Cuối Hạ, huyện K ra quyết định xử phạt hành chính số 09/QĐ-XPHC về hành vi trộm c p tài sản.

Nhân thân: Không.

Bị b t, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2021 tại Nhà tạm giữ của C ng an huyện K, tỉnh Hòa Bình cho đến nay; có m t tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Bùi Đức V: Ông Nguyễn Hữu D - Trợ giúp viên pháp lý trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (có m t).

* Người bào chữa cho bị cáo Quách Văn L: Ông: Bùi Quang Ng - Trợ giúp viên pháp lý trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H v ng m t tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử v ng m t

2.2. Bị hại: Ông B i Văn Ch, sinh năm 1973, (có m t).

Nơi cư trú: xóm Cóc Lẫm, xã K, huyện K, tỉnh H.

2.3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông B i Văn S, sinh năm 1973 và bà B i Thị C, sinh năm 1969;

Nơi cư trú: Xóm Vố, xã K, huyện K, tỉnh Hòa Bình v ng m t tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử v ng m t .

- Anh B i Văn Nh, sinh năm 1983;

Nơi cư trú: Khu L, thị trấn B, huyện K, tỉnh Hòa Bình. v ng m t tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử v ng m t .

- Ông B i Văn V, sinh năm 1970;

Nơi cư trú: Xóm C, xã CH huyện K, tỉnh Hòa Bình. v ng m t tại phiên tòa, kh ng có lý do)

- Bà B i Thị T, sinh năm 1962;

Nơi cư trú: Xóm Th, xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình v ng m t tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử v ng m t

- Bà Quách Thị H, sinh năm 1975;

Nơi cư trú: Xóm C, xã CH huyện K, tỉnh Hòa Bình. v ng m t tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử v ng m t)

- B i Thị Ph, sinh năm 1974;

Nơi cư trú: Xóm Ch, xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình. có m t

- Bà B i Thị P, sinh năm 1965.

Nơi cư trú: Xóm Th, xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình. có m t

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Hành vi l n th nhất: Trưa ngày 20/12/2021, sau khi đi uống Methadone tại Trung tâm y tế huyện K, B i Đ c V điều khiển xe m t BKS 28B1-005.42 đi về đến c u Bãi Xe - Nam Thượng và dừng trên c u Ch, V g p Quách Văn L điều khiển xe mô tô BKS 28F9 - 9117 đi Ch từ chợ Bãi Xe - Nam Thượng đến. Do nghiện ma tuý nhưng kh ng có tiền mua để sử dụng, biết L cũng nghiện ma tuý như mình, V rủ L đi trộm c p tài sản của người dân nhằm bán lấy tiền mua ma tuý và chi tiêu, L đồng ý. L để xe ở ngã tư Đồng Bò xã C, huyện K rồi lên xe máy đi với V. Đi đến khu trại nu i lợn của ng B i Văn Ch thuộc xóm D, xã K, huyện K đang xây dựng, thấy trại lợn khoá cổng kh ng có người tr ng coi, V và L rủ nhau trèo tường đột nhập vào trại lợn để trộm c p tài sản. L đ ng ở ngoài khu chuồng nu i chờ V nhảy vào bên trong chuồng, V thấy có 01 máy c t cỏ nhãn hiệu SHINDAIWA, MODE: S26, Số seri: 8070462, màu sơn xanh, đã qua sử dụng và 01 máy c t cỏ màu sơn đỏ, MODEL: 9C330, PWER: 0.95KW, Made in China, đã qua sử dụng để ở khu nu i lợn nái, V đưa qua tường cho L đ ng bên ngoài tường đỡ xuống. V đi ra ngoài c ng L mang hai máy c t cỏ đi ra tường bao và 04 thanh s t phi 18, loại đ c ruột hình trụ tròn, m i thanh dài 6m ở khu nu i lợn con. V đưa những tài sản này cho L ở bên ngoài chuồng c m, rút ra rồi c ng L đưa ra bên ngoài tường bao, sau đó d ng xe máy chở đi tiêu thụ. V và L chở 04 thanh s t phi 18 đến cửa hàng thu mua phế liệu của ng B i Văn S, sinh năm 1973, trú tại: Xóm Vố, xã K, huyện K bán cho vợ ng S là bà B i Thị C, sinh năm 1969 được số tiền 380.000 VND (ba trăm tám mươi nghìn đ ng), sau đó tiếp tục chở 02 máy c t cỏ đến cửa hàng của anh B i Văn Nh, sinh năm 1983, tại khu Lạng, thị trấn Bo, huyện K, tỉnh Hòa BìnhB bán cho anh Nh với giá 1.100.000VND (một triệu một trăm nghìn đ ng). Trên đường đi lên thành phố HB mua ma tuý, V chia cho L số tiền 600.000VND (sáu trăm nghìn đ ng). L lấy 300.000VND (ba trăm nghìn đ ng) góp cùng V, V thêm vào 400.000VND (bốn trăm nghìn đ ng), tổng là 700.000VND (bảy trăm nghìn đ ng) để mua ma tuý của một người đàn ng lạ m t tại chân Dốc Cun. Sau đó V và L chở nhau về sử dụng hết số ma tuý trên.

Hành vi l n th hai: Trưa ngày 21/12/2021, L điều khiển xe m t biển kiểm soát 28F9- 9117 đến nhà V Ch rồi rủ V đi tìm tài sản của người dân sơ hở để trộm c p, V đồng ý và lên xe Ch cùng L. Khi đi qua khu trại lợn của ng Ch tại xóm D, thấy trại lợn kh ng có người tr ng coi, L rủ V c ng nhau đột nhập vào để trộm c p tài sản tiếp. Sau khi trèo tường bao vào bên trong, thấy dây điện 03 pha lõi đồng, tiết diện lõi 6mm, vỏ dây bằng nhựa màu đen, trên vỏ dây có in th ng tin loại dây 3 x 6 và tên Công ty Korea Vina b c trong khu chuồng lợn, L d ng kéo nh t được dưới nền c t đ u dây điện g n với Aptomat ở chuồng lợn con, V nhảy vào khu nu i lợn nái tháo đ u dây điện còn lại ở đ u c u dao, sau đó L kéo cuộn lại rồi đem ra ngoài tường bao đưa lên xe máy c ng V đi tiêu thụ. L và V tiếp tục chở cuộn dây đến nhà ng Bùi Văn S để bán được số tiền 1.425.000VND (một triệu bốn trăm hai mươi lăm nghìn đ ng). Sau khi nhận được tiền, V chia cho L 600.000VND (sáu trăm nghìn đ ng) rồi tiếp tục chở nhau đến chân Dốc Cun mua ma tuý của một người đàn ng lạ m t với số tiền 900.000VND (chín trăm nghìn đ ng), trong đó V góp 500.000VND (năm trăm nghìn đ ng); L góp 400.000VND (bốn trăm nghìn đ ng). Sau đó, V và L đem ma tuý về sử dụng hết.

Cơ quan cảnh sát điều tra C ng an huyện K đã tiến hành định giá 02 (hai) máy c t cỏ, 04 (bốn) thanh s t, 01 (một) cuộn dây điện mà B i Đ c V và Quách Văn L trộm c p tại trại lợn của ng B i Văn Ch vào ngày 20, 21/12/2021. Tại bản Kết luận giám định số 16/KLGĐ- HĐĐGTS ngày 29/12/2021 và số 05/KLGĐ- HĐĐGTS ngày 07/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện K kết luận:

- Giá trị tài sản B i Đ c V và Quách Văn L trộm c p ngày 20/12/2021, gồm: 02 máy c t cỏ có trị giá 4.000.000VND (bốn triệu đ ng); 04 thanh s t phi 18 có trị giá 800.000VND (tám trăm nghìn đ ng). Tổng trị giá là 4.800.000 đồng (bốn triệu tám trăm nghìn đ ng).

- Giá trị tài sản B i Đ c V và Quách Văn L trộm c p ngày 21/12/2021 là 01 cuộn dây điện lõi đồng dài 65,55m có giá trị là 3.605.250 đồng (Ba triệu sáu trăm linh năm nghìn hai trăm năm mươi đ ng).

Nh vậ t ng gi tr tài s n mà c c c o trộm c p hai ần trong hai ngà

và 12/12/2021 à

N t m tri u n trăm inh năm nghìn hai trăm năm m ơi đồng)

ề tài i u đồ vật thu giữ:

Ngày 22/12/2021, anh B i Văn Nh đến C ng an huyện K giao nộp 01(một) máy c t cỏ nhãn hiệu SHINDAIWA, MODE: S26V, Số seri 8070462, màu sơn xanh, đã qua sử dụng và 01 máy c t cỏ màu sơn đỏ, MODE: 9C330, POWER: 0.95KW, made in China, đã qua sử dụng; ông B i Văn S tự giác giao nộp lại 04 (bốn) thanh s t phi 18, loại s t đ c ruột hình trụ tròn, m i thanh có chiều dài 6m; thu giữ tại hiện trường 01 (một) chiếc kéo đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của ng Ch bị V và L trộm c p ngày 20/12/2021, sau đó đem bán cho anh Nh và bà C là vợ ông S. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật ch ng đối với các tài sản trên bằng hình th c trả lại cho chủ sở hữu là ng B i Văn Ch.

Đối với cuộn dây điện lõi đồng mà V và L trộm c p của ng Ch ngày 21/12/2021 sau đó bán cho ông S. Quá trình điều tra ông S cho biết đã bán cuộn dây trên cho một người khách đến mua vào sáng ngày 22/12/2021, kh ng rõ người khách trên là ai, do đó kh ng thể thu giữ được.

Đối với số tiền bán tài sản trộm c p của ng Ch có được, quá trình điều tra V và L khai nhận đã d ng số tiền chi tiêu cá nhân và mua ma tuý sử dụng hết, do đó Cơ quan điều tra kh ng thu giữ được tiền và ma tuý.

Đối với phương tiện là 02 chiếc xe máy mà B i Đ c V và Quách Văn L d ng để đi trộm c p tài sản, xác định là tài sản của ông B i Văn V và B i Văn C vợ là Bùi Thị T) nên Cơ quan điều tra kh ng tiến hành thu giữ.

Cáo trạng số 11/CT-VKSKB ngày 07/04/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố B i Đ c V và Quách Văn L về tội “Trộm c p tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo V và L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội thực hiện ngày 20 và 21/12/2021 như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Ng ời ào chữa cho c o Bùi Đức là ông Nguyễn Hữu D nhất tr với các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và cáo trạng của đại diện Viện kiểm sát c ng bố. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nh quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS (người phạm tội tự nguyện sửa chữa, b i thường thiệt hại hoặc kh c phục hậu quả; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải), khoản 2 Điều 51 (người phạm tội đầu th ; người phạm tội là người dân tộc thiểu số sinh sống vùng có điều kiện kinh tế hội đặc biệt khó khăn); áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự (tái phạm), xử phạt bị cáo 18 tháng t .

Ng ời ào chữa cho c o Qu ch ăn L - ông Bùi Quang Ng v ng m t tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử v ng m t và văn bản bào chữa cho bị cáo Quách Văn L, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nh quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự (người phạm tội tự nguyện sửa chữa, b i thường thiệt hại hoặc kh c phục hậu quả; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải); khoản 2 Điều 51(người phạm tội là người dân tộc thiểu số sinh sống vùng có điều kiện kinh tế hội đặc biệt khó khăn) xử phạt bị cáo dưới m c đề nghị thấp nhất của vị đại diện Viện kiểm sát.

i n c a h i: Ông B i Văn Ch tại phiên tòa xác nhận đã nhận được các tài sản gồm 02 máy c t cỏ, 04 thanh s t, 01 kéo, kh ng yêu c u bồi thường về những tài sản này. Tại giai đoạn điều tra ông yêu c u các bị cáo bồi thường số tiền 3.800.000VND (ba triệu tám trăm nghìn đ ng) giá trị của cuộn dây điện và c ng tìm kiếm. Tại phiên tòa, ng xác nhận gia đình các bị cáo đã bồi thường 2.000.000VND (hai triệu đ ng), ông kh ng yêu c u các bị cáo bồi thường số tiền còn lại là 1.800.000VND (một triệu tám trăm nghìn đ ng). Kh ng yêu c u Hội đồng xét xử giải quyết về trách nhiệm dân sự; trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

i n c a ng ời có qu ền ợi nghĩa vụ iên quan:

Ông B i Văn Nh v ng m t tại phiên tòa theo biên bản lấy lời khai tại giai đoạn điều tra và đơn đề nghị xét xử v ng m t tại phiên tòa xác nhận đã được gia đình các bị cáo bồi hoàn số tiền là 1.100.000VND (một triệu một trăm nghìn đ ng) do ông kh ng biết nên mua tài sản bị cáo trộm c p, ông kh ng yêu c u các bị cáo bồi thường thêm.

Ông B i Văn S và bà B i Thị C v ng m t tại phiên tòa kh ng yêu c u bị cáo bồi hoàn số tiền đã mua 04 thanh s t của 02 bị cáo và kh ng yêu c u gì thêm.

Ông B i Văn V, bà B i Thị T, bà Quách Thị H v ng m t tại phiên tòa nhưng theo biên bản lấy lời khai tại giai đoạn điều tra và đơn đề nghị xét xử v ng m t tại phiên tòa xác nhận xe máy kh ng thuộc quyền sở hữu của các bị cáo, kh ng bị thu giữ nên kh ng có ý kiến gì.

Bà B i Thị Ph, B i Thị Ph là m của hai bị cáo đã chi số tiền 2.000.000VND (hai triệu đ ng) bồi thường kh c phục hậu quả cho các bị cáo. Hai bà kh ng yêu c u các bị cáo bồi hoàn số tiền trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K trình bày bản luận tội, giữ nguyên cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét x :

- Tuyên bố: Bị cáo B i Đ c V và Quách Văn L phạm tội “Trộm c p tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo B i Đ c V 18 đến 24 tháng t ;

p dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Quách Văn L 15 đến 18 tháng t .

- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại không yêu c u các bị cáo liên đới bồi thường tiếp số tiền còn lại là 1.800.000VND (một triệu tám trăm nghìn đ ng) cho bị hại là ng B i Văn Ch. Nên đề nghị Hội đồng xét xử kh ng xem xét giải quyết.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không yêu c u các bị cáo phải bồi thường, bồi hoàn về dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử kh ng đề cập giải quyết.

- Về vật ch ng vụ án:

Đối với 02 chiếc xe m t BKS 28B1-005.42 và BKS 28F9- 9117 mà B i Đ c V và Quách Văn L dùng làm phương tiện để đi trộm c p tài sản. Quá trình điều tra xác định là tài sản của ng B i Văn V và B i Văn C vợ là B i Thị T Cơ quan điều tra kh ng tiến hành thu giữ, kh ng ai có khiếu nại, khiếu kiện nên Hội đồng xét xử kh ng đề cập xem xét.

Đối với 02 máy c t cỏ, 04 thanh s t, 01 kéo, Cơ quan điều tra C ng an huyện K đã trả lại cho bị hại là ông B i Văn Ch theo quy định của pháp luật, ông Ch không yêu c u gì, nên Viện kiểm sát kh ng đề cập.

Đề nghị Hội đồng xét xử truy thu sung ngân sách nhà nước số tiền các bị cáo hưởng lợi bất ch nh từ hành vi bán tài sản trộm c p mà có: truy thu của bị cáo B i Đ c V số tiền 1.705.000VND (một triệu bảy trăm linh lăm nghìn đ ng), của bị cáo Quách Văn L số tiền 1.200.000VND (một triệu hai trăm nghìn đ ng).

Các b c o nói ời sau cùng:

Bị cáo B i Đ c V đã nhận th c được hành vi phạm tội của mình, rất ăn năn, hối l i và xin hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo Quách Văn L đã nhận th c được hành vi phạm tội của mình, rất ăn năn, hối cải và mong Hội đồng xét xử giảm nh hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng:

Cơ quan CSĐT - C ng an huyện K, Điều tra viên, VKSND huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác kh ng có ý kiến ho c kiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung của vụ án:

Tại phiên tòa h m nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa ph hợp với các lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, ph hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người ch ng kiến c ng các tài liệu, ch ng c khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn c khẳng định: Vào ngày 20 và 21/12/2021 bị cáo B i Đ c V và Quách Văn L đã 02 l n lén lút đột nhập vào trang trại lợn của ng B i Văn Ch tại xóm D, xã K, huyện K, tỉnh H để trộm c p 02 (hai) máy c t cỏ, 04 (bốn) thanh s t phi 18, 01 (một) cuộn dây điện. Giá trị tài sản trộm c p l n th nhất vào ngày 20/12/2021 là 4.800.000VND (bốn triệu tám trăm nghìn đ ng); Giá trị tài sản trộm c p l n th hai vào ngày 21/12/2021 là 3.605.250VND (ba triệu sáu trăm linh năm nghìn hai trăm năm mươi đ ng). Tổng giá trị tài sản Việt và L trộm c p là 8.405.250VND (tám triệu bốn trăm linh năm nghìn hai trăm năm mươi đ ng) với mục đ ch để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân.

Về tội danh và hình phạt:

Các bị cáo B i Đ c V và Quách Văn L là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận th c được việc trộm c p tài sản là vi phạm pháp luật nhưng do c n tiền để chi tiêu cá nhân nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm c p tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự .Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh H đã truy tố các bị cáo theo tội danh và khung hình phạt như trên là hoàn toàn có căn c và đúng pháp luật.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: B i Đ c V có 01 nhân thân xấu, 01 tiền án; Quách Văn L có 01 tiền sự.

ề tình ti t gi m nhẹ:

Bị cáo B i Đ c V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện sửa chữa bồi thường thiệt hại ho c kh c phục hậu quả; bị cáo sau khi phạm tội đã ra đ u thú; bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú, sinh sống ở địa bàn kinh tế, xã hội đ c biệt khó khăn theo quy định của Ch nh phủ. Đây là những tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Quách Văn L tự nguyện sửa chữa bồi thường thiệt hại ho c kh c phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là người dân tộc thiểu số cư trú, sinh sống ở địa bàn kinh tế, xã hội đ c biệt khó khăn theo quy định của Ch nh phủ. Đây là những tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo B i Đ c V có 01 tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, vừa mới chấp hành án xong chưa được xóa án t ch lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới. Do vậy c n áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự quy định về tái phạm.

Các bị cáo đều hai l n thực hiện hành vi trộm c p tài sản nên c n áp dụng tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Phạm tội 02 l n trở lên.

Xét về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, c n xét xử các bị cáo kịp thời và có hình phạt tương x ng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.

Về vai trò phạm tội của từng bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm mang t nh chất giản đơn; bị cáo B i Đ c V và Quách Văn L m i người một l n là người giữ vai trò khởi xướng và cả hai l n giữ vai trò thực hành t ch cực trong việc trộm c p tài sản. Tuy nhiên, xét về t nh chất, m c độ thì B i Đ c V là người khởi xướng đ u tiên, là người đ ng ra chia lợi bất ch nh, hưởng lợi nhiều hơn từ kết quả hành vi trộm c p, bản thân vừa chấp hành xong hình phạt t chưa được xóa án t ch lại tái phạm thể hiện ý th c kh ng t n tr ng, chấp hành pháp luật nên khi lượng hình c n có m c hình phạt nghiêm kh c hơn bị cáo Quách Văn L.

Về hình phạt bổ sung:

Quá trình điều tra và thẩm vấn c ng khai tại phiên tòa thấy rằng các bị cáo là lao động tự do, thu nhập thấp kh ng ổn định vì vậy kh ng áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Các nội dung khác:

Số tiền 1.600.000VND (một triệu sáu trăm nghìn đ ng) của ông B i Văn S bán tài sản trộm c p có được do mua bán tài sản trộm c p của các bị cáo, do ông S ngay tình, kh ng biết bản thân tiêu thụ tài sản trộm c p. Ông S mua cuộn dây điện của các bị cáo Việt và L hết 1.425.000VND (một triệu bốn trăm hai mươi lăm nghìn đ ng) và bán được 1.600.000VND (một triệu sáu trăm nghìn đ ng); bà C (vợ ông S) mua 04 thanh s t phi 18 của các bị cáo 380.000VND (Ba trăm tám mươi nghìn đ ng). Ông S và bà C đã nộp lại cơ quan điều tra 04 thanh s t phi 18. Như vậy ng S và bà C kh ng được hưởng lợi từ việc mua bán đổi chác tài sản trộm c p của các bị cáo. Do vậy không truy thu đối với số tiền trên.

Đối với ông B i Văn S, bà Bùi Thị C, anh B i Văn Nh là những người tiêu thụ tài sản các bị cáo trộm c p nhưng kh ng biết tài sản mình mua là do các bị cáo trộm c p nên không xem xét về trách nhiệm hình sự là có căn c .

Về x lý vật chứng:

Cơ quan Điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu do vậy Hội đồng xét xử kh ng đề cập giải quyết.

. Về trách nhiệm dân sự:

Tại giai đoạn điều tra bị hại đã yêu c u các bị cáo liên đới bồi thường thiệt hại số tiền 3.800.000VND (ba triệu tám trăm nghìn đ ng), gia đình các bị cáo đã bồi thường cho bị hại là ng B i Văn Ch số tiền 2.000.000VND (hai triệu đ ng). Tại phiên tòa bị cáo B i Đ c V và Quách Văn L nhận trách nhiệm tiếp tục bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 1.800.000VND (một triệu tám trăm nghìn đ ng). Tuy nhiên, bị hại kh ng yêu c u bồi thường thiệt hại đối với số tiền còn lại do hoàn C gia đình các bị cáo quá khó khăn, kh ng đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết nên Hội đồng xét xử kh ng đề cập giải quyết.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Các bị cáo Bùi Đ c Việt và Quách Văn L phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án ph và lệ ph Tòa án. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

ì c c ẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố các bị cáo B i Đ c V, Quách Văn L phạm tội “Trộm c p tài sản”.

p dụng khoản 1 điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo B i Đ c Việt 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn t t nh từ ngày tạm giữ, tạm giam 22/12/2021.

p dụng khoản 1 điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Quách Văn L 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn t t nh từ ngày tạm giữ, tạm giam 22/12/2021.

2. p dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, truy thu sung ngân sách Nhà nước tài sản bị cáo hưởng lời bất ch nh: Số tiền 1.705.000VND (một triệu bảy trăm linh lăm nghìn đ ng) đối với bị cáo B i Đ c V và 1.200.000VND (một triệu hai trăm nghìn đ ng) đối với bị cáo Quách Văn L.

3. Về án phí: p dụng khoản 2 điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án ph và lệ ph Tòa án buộc các bị cáo Bùi Đ c Việt, Quách Văn L m i bị cáo phải nộp 200.000VND (hai trăm nghìn đ ng) án ph hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: p dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có m t tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan v ng m t tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án ho c bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ