- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2022/HS-ST Ngày 06-6-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Văn Hùng Các hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Văn Tuyên 2/ Ông K’ Sung
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Út – Thư ký của Tòa án án nhân dân huyện Đ – Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thúy Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2022/QĐXXST – HS ngày 25 tháng 5 năm 2022 đối với: * Bị cáo Hoàng Văn T - Sinh ngày 15 tháng 10 năm 1997; tại Lâm Đồng; Nơi cư trú: Tổ dân phố B, TT. Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn C - Sinh năm 1972 (đã chết) và bà Lưu Thị L - Sinh năm 1963; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự, tiền án: Không; Về nhân thân: Ngày 16/3/2020, bị công an huyện Đ ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi đánh nhau gây thương tích; Hiện bị cáo đang được tại ngoại “Có mặt”. * Bị hại: Anh Vũ Mạnh T1 – Sinh năm 1996 Địa chỉ: TDP 6, TT. Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “Có mặt”. * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Sỹ H – SN 1988 Địa chỉ: TDP 6, TT. Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt”. * Người làm chứng: 1/ Anh Lương Thanh D – Sinh năm 1994 Địa chỉ: TDP 6, TT. Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “Vắng mặt”. 2/ Chị Nông Thị Như T2 – Sinh năm 1998 Địa chỉ: TDP C, TT. Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “Vắng mặt”. 3/ Anh Đoàn Thế A – Sinh năm 1997 Địa chỉ: Thôn 5, xã Đạ Kho, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “Vắng mặt”. 4/ Anh Long Ngọc S – Sinh năm 1995 Địa chỉ: TDP B, TT. Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “Có mặt”. 5/ Chị Lương Thị H1 – Sinh năm 1993 Địa chỉ: Thôn 8, xã Đạ Kho, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “Vắng mặt”. 6/ Anh Triệu Hữu D – Sinh năm 1987 Địa chỉ: TDP C, TT. Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “Vắng mặt”. 7/ Anh Nguyễn Hoàng Gia T3 – Sinh năm 1987 Địa chỉ: TDP D, TT. Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “Vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 12 giờ 00 ngày 12/12/2021, Hoàng Văn T, cùng một số bạn bè là Đoàn Thế A, Long Ngọc S, Nông Thị Như T2, Lương Thanh D, Lương Thị H cùng nhau uống rượu tại nhà của T tại TDP B, TT. Đ. Đến khoảng 14 giờ chiều cùng ngày thì Thế Anh chở Hằng về quán H1 để đi làm (H làm nhân viên tại quán nhậu H1). Đến 15 giờ chiều cùng ngày thì T, Tâm, Sơn rủ nhau lên quán H Thịnh nhậu tiếp, chỉ riêng có Lương Thanh D bị mệt nên ngủ lại nhà T, không đi. Khi lên đến quán H1 T3 thì thấy Nguyễn Hoàng Gia T3, Triệu Hữu D và Vũ Mạnh T1 đang ngồi nhậu tại bàn ở khu vực sảnh của quán. Nhóm của T vào ngồi nhậu ở chòi cuối quán cách bàn nhậu của T1 khoảng 08m. Khoảng 15 phút sau thì Thịnh sang bàn của T mời bia và ngồi nhậu cùng, sau đó cả T1 và D cũng sang ngồi nhậu cùng nhóm của T. Khi T rót bia mời nhưng T1 không uống và tỏ T độ bức xúc. T hỏi T1 chửi ai nhưng T1 không trả lời. Sau đó T tiếp tục rót bia cho T1 thì T1 tiếp tục chửi T, khi T hỏi lý do chửi thì T1 lườm lại T và không nói gì. Bực tức, T điều khiển xe máy về nhà tại TDP 3B, thị trấn Đ lấy 01 (một) con dao phát ở đầu giường ngủ, 01(một) con dao T lan và 01(một) thanh sắt tròn ở khu vực bếp, rồi gọi D dậy nói đi cùng với T, D hỏi T là có mâu thuẫn với ai thì T nói là với T1. D nghe vậy nH cũng không biết T1 nào. T dắt 02 con dao vào xe, rồi đưa 01 thanh sắt tròn cho D cầm, chở D đi lên quán H1. Khi lên đến quán H1 thì T cầm 02 (hai) con dao (tay trái cầm dao T lan, tay phải cầm dao phát), D cầm 01(một) thanh sắt đi vào phía chòi nơi T1 và mọi người đang ngồi nhậu rồi thách thức T1 ra ngoài. Khi đó Thịnh, Du, Sơn, Thế Anh đi ra can ngăn đẩy T và D ra. D thấy T1 là người quen nên chủ động đưa thanh sắt cho Tâm cất đi rồi đi vào can ngăn, nói chuyện với T1. D có hỏi lý do vì sao lại mâu thuẫn thì T1 không nói gì. Sau đó D quay ra can ngăn T cùng mọi người thì bị T gạt ra, lúc này T1 từ phía chòi cầm theo 01 (một) thanh sắt tròn dài đánh 01 (một) cái ngang vào vùng gáy bên trái của T nên T cầm dao phát bằng tay phải chém 01 (một) nhát từ trên xuống về phía T1, lưỡi dao chém trúng vào đỉnh đầu của T gây ra có 01 (một) vết thương vùng đỉnh đầu dài 15cm. T1 lùi lại một bước rồi ngã gục xuống nền quán, ngay sát chòi nhậu. Thấy T đánh T1 thì S lúc này cũng đi vào chòi lấy 01 (một) lon bia Sài gòn đang uống dở ra ngoài định tiếp tục đánh T1 nhưng được mọi người can ngăn kịp thời. Vũ Mạnh T1 được mọi người đưa đến Bệnh viện cấp cứu và điều trị. Còn Hoàng Văn T sau khi gây án thì vứt dao phát lại quán rồi điều khiển xe chở Long Ngọc Sơn về nhà rồi bỏ vào vườn dâu tại xã L ngủ, đến sáng ngày 13/12/2021 thì đến Cơ quan Công an huyện Đ đầu thú về hành vi của mình.
Tại Bản kết luận giám định về thương tích số 41/2022 –TgT ngày 11/02/2022, Trung tâm Pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận: Vũ Mạnh T1 bị 01 (một) sẹo đỉnh đầu dài 12cm, dập, tụ máu khí đỉnh phải, nứt sọ 2 bên, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Vũ Mạnh T1 là 21% (Hai mươi mốt phần trăm).
Tại bản Cáo trạng số 19/CT-VKSĐT ngày 28 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tù.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại nên không đề cập.
* Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận: Do mâu thuẫn cá nhân trong lúc ngồi nhậu cùng nhau, khi thấy anh Vũ Mạnh T1 có lời lẽ xúc phạm với mình thì bị cáo T đi về nhà lấy 02 con dao và 01 thanh sắt tìm anh Vũ Mạnh T1 để đánh. Khi anh T1 vừa cầm 01 thanh kim loại nhặt được ở phía trong chòi nhậu đánh 01 cái vào vùng gáy của của bị cáo T thì bị cáo T đã cầm 01 con dao phát bằng tay phải chém 01 (một) nhát từ trên xuống, lưỡi dao trúng vào đỉnh đầu của anh T1 gây ra 01 vết thương đỉnh đầu dài 12cm, dập, tụ máu khí đỉnh phải, nứt sọ 2 bên, gây thương tích cho anh Vũ Mạnh T1 là 21%. Qua lời khai nhận của bị cáo, bị hại, người làm chứng tại phiên toà phù hợp với những tài liệu chứng cứ đã được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Xét hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi ấy đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác và gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do mâu thuẫn cá nhân trong lúc ngồi nhậu cùng nhau, khi thấy anh Vũ Mạnh T1 có lời lẽ xúc phạm với mình thì bị cáo T đã cầm 01 con dao phát - loại hung khí nguy hiểm chém một nhát gây thương tích cho anh Vũ Mạnh T1 là 21%; Về nhân thân: Năm 2020, bị cáo T bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau gây thương tích, cho thấy bị cáo là người coi thường pháp luật, coi thường sức khoẻ của người khác. Vì vậy, cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, cần phải cách ly bị cáo T ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, vừa để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên, khi lượng hình phạt cũng cần xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần vì: Bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại đã có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt và đơn yêu cầu không khởi tố vụ án hình sự đối với bị cáo; Sau khi phạm tội (sáng ngày 13/12/2021) bị cáo đã ra đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, xét thấy để xảy ra vụ án này là do một phần lỗi của người bị hại là anh Vũ Mạnh T1 và anh T1 đã bị xử phạt vi phạm hành chính. Trong vụ án này, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo, xử phạt bị cáo T dưới khung hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Ngoài ra, trong vụ án còn có Lương Thanh D, được bị cáo T rủ cầm cây sắt đi đánh anh T1. Tuy nhiên, khi đến nơi D phát hiện anh T1 là người quen nên đã tự động vứt hung khí đi rồi can ngăn bị cáo T, nên D không đồng phạm với bị cáo T. Còn anh Vũ Mạnh T1 cũng có hành vi dùng thanh sắt tròn dài đánh 01 cái vào gây của bị cáo T, tuy nhiên chưa gây hậu quả gì, bị cáo T không yêu cầu xử lý. Còn Long Ngọc Skhi thấy bị cáo T và anh T1 đánh nhau cũng đi vào chòi lấy 01 lon bia ra định đánh anh T1 nhưng mọi người ngăn cản kịp thời. Xét thấy hành vi của Lương Thanh D, Vũ Mạnh T1 và Long Ngọc S chỉ ở mức độ hành chính nên Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ cho Công an huyện Đ ra quyết định xử phạt hành chính là phù hợp. Đoàn Thế A trong lúc can ngăn bị cáo T thì tay của A đã va vào con dao T lan của bị cáo T đang cầm trên tay gây ra vết thương nhẹ gây chảy máu, không phải do bị cáo T cố ý gây ra nên không xem xét.
Đối với hành vi đánh nhau tại quán nhậu là nơi công cộng. Tuy nhiên, sự việc bị cáo T và anh T1 diễn ra nhanh chóng, các đối tượng khác chủ yếu can ngăn không gây náo loạn, gây mất trật tự công cộng, mặt khác về nhân thân, các đối tượng cũng chưa có tiền án, tiền sự về hành vi này nên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Vũ Mạnh T1 và bị cáo T đã thỏa thuận bồi thường, bị hại không yêu cầu gì thêm. Đối với hành vi dùng thanh kim loại đánh bị cáo T không gây ra thương tích gì, bị cáo T không yêu cầu anh T1 phải bồi thường.
Về vật chứng của vụ án:
- 01 (một) con dao loại dao phát, cán dao làm bằng gỗ tròn đường kính 03cm, chiều dài 49,5cm; lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 26cm, giữa cán dao và lưỡi dao có gắn khuy kim loại màu đen dài 10,5cm, bản rộng nhất của lưỡi dao dài 5,5cm, hẹp nhất 2,5cm.
- 01 (một) con dao cán gỗ loại dao T lan, cán dao dài 11cm, lưỡi dao màu trắng dài 11cm, bản rộng nhất của lưỡi dao là 1,9cm.
- 01 (một) thanh kim loại tròn, màu xám, đường kính 3cm, dài 70cm.
- 01 (một) thanh kim loại tròn, màu xám, đường kính 4,5cm, dài 1m, một đầu có 02 chiếc đinh vít đối xứng thò ra ngoài, 01 chiếc dài 2,5cm, 01 chiếc dài 03cm.
Xét thấy, các vật chứng trên không còn giá trị, cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
Áp dụng điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:
- 01 (một) con dao loại dao phát, cán dao làm bằng gỗ tròn đường kính 03cm, chiều dài 49,5cm; lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 26cm, giữa cán dao và lưỡi dao có gắn khuy kim loại màu đen dài 10,5cm, bản rộng nhất của lưỡi dao dài 5,5cm, hẹp nhất 2,5cm.
- 01 (một) con dao cán gỗ loại dao T lan, cán dao dài 11cm, lưỡi dao màu trắng dài 11cm, bản rộng nhất của lưỡi dao là 1,9cm.
- 01 (một) thanh kim loại tròn, màu xám, đường kính 3cm, dài 70cm.
- 01 (một) thanh kim loại tròn, màu xám, đường kính 4,5cm, dài 1m, một đầu có 02 chiếc đinh vít đối xứng thò ra ngoài, 01 chiếc dài 2,5cm, 01 chiếc dài 03cm.
Chi tiết của các vật chứng trên được mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 28/4/2022 giữa cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo thủ tục phúc thẩm; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại địa phương.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Đ; - Công an huyện Đ; - Bị cáo; Bị hại; - Người có QL và NVLQ; - Thi hành án dân sự; - Lưu HS. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN TOÀ Nguyễn Văn Tuyên K’ Sung | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Dương Văn Hùng HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN Dương Văn Hùng |