- Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Tài C - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Triệu Tài C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2022/HS-ST Ngày 22 - 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Giang Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Quý Sáng và bà Phạm Thị Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dần - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2022/ QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Triệu Tài C (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 10/10/2004 tại huyện B, tỉnh Lào Cai
Nơi cư trú: Bản N, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố mẹ đẻ không xác định được. Bố nuôi: Triệu Tiến Q sinh năm 1964 và mẹ nuôi là Lý Thị T sinh năm 1968, hiện trú tại Bản N, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vợ con chưa có. Tiền án: Không. Tiền sự 01: Quyết định số 09/QD-TA ngày 29/6/2020 của TAND huyện B áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đối với Triệu Tài C thời gian 18 tháng. Ngày 02/01/2022 bị cáo chấp hành xong quyết định.
Nhân thân: Quyết định số 05/QĐ-XPHC ngày 10/10/2019 của Công an xã X xử phạt Triệu Tài C bằng hình thức cảnh cáo;
Quyết định số 06/QĐ-XPHC ngày 20/11/2019 của Công an xã X xử phạt Triệu Tài C bằng hình thức cảnh cáo;
Quyết định số 119/QĐ-UBND ngày 08/12/2019 của Chủ tịch UBND xã X áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã X đối với Triệu Tài C thời gian 03 tháng từ 08/12/2019 đến 08/3/2020. Ngày 08/3/2020 Triệu Tài C chấp hành xong quyết định;
Quyết định số 08/QĐ-XPHC ngày 15/12/2019 của Công an xã X xử phạt Triệu Tài C bằng hình thức cảnh cáo;
Quyết định số 12/QĐ-XPHC ngày 18/5/2020 của Công an xã X xử phạt Triệu Tài C bằng hình thức cảnh cáo.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/10/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Yên. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: bà Liệu Thị Thư - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai. Có mặt.
Bị hại: Anh Triệu Tiến Q và chị Triệu Thị E
Địa chỉ: Bản N, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai
(Chị E uỷ quyền cho anh Q). Anh Q có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Châu Văn S
Địa chỉ: Bản M, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 07/10/2022 Triệu Tài C đi soi ếch tại đường liên bản Nhàm đi bản Q, xã X, huyện Bảo Yên. Khi đi qua nhà anh Triệu Tiến Q (trú cùng bản) bị cáo nhìn thấy chiếc xe mô tô Honda Wave RSX biển kiểm soát 24Y1-189.72 của gia đình anh Q dựng ở hiên nhà, chìa khoá xe vẫn cắm tại ổ khoá. Lúc này bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe. Quan sát xung quanh không có người, bị cáo tắt đèn pin đội trên đầu rồi đi lại gần vị trí chiếc xe mô tô, bị cáo cầm hai tay lái, dùng chân gạt chân chống xe rồi lùi xe ra đến đường liên bản sau đó quay đầu xe, dắt xe đi về hướng bản N cách nhà anh Quốc khoảng 30m thì bị cáo ngồi lên xe, mở khoá nổ máy điều khiển xe đi đến nhà anh Hoàng Văn L (sinh năm 1988, địa chỉ: Xóm H, xã X, huyện Bảo Yên) mục đích để hỏi cầm cố xe. Khi đến nhà anh L bị cáo hỏi "Anh có cắm xe không", anh L nói "Anh không, thằng S đang ở quán nhà ông C, mày hỏi nó xem nó có cho cắm không". Bị cáo điều khiển xe vừa trộm cắp được đến nhà ông Trang Văn C trú tại bản Xóm H, xã X. Tại nhà ông C, bị cáo gặp anh Châu Văn S và nói "Anh cắm cho em con xe với", anh S hỏi "Mày cắm bao nhiêu", bị cáo nói "Sáu triệu", anh S hỏi tiếp "Xe có đăng ký không", bị cáo trả lời "Không", anh S hỏi "Xe của mày à", bị cáo nói "Vâng". Sau đó anh S đưa cho bị cáo 6.000.000đ, bị cáo cầm tiền rồi đưa chìa khoá xe và xe cho anh S. Cầm cố được xe, bị cáo đi về nhà sau đó đã tiêu xài hết số tiền cầm cố, đến ngày 11/10/2022 bị cáo ra công an làm việc và đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình.
Tại kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐG ngày 14/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bảo Yên kết luận: Giá trị xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu sơn đỏ đen biển kiểm soát 24Y1-189.72 tại thời điểm ngày 07/10/2022 là 15.312.500đ.
Tại bản cáo trạng số 25/CT-VKSBY ngày 29/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Triệu Tài C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Triệu Tài C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và không đề nghị gì. Bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đề nghị bị cáo bồi thường tiền đi lại là 2.000.000đ, bị cáo nhất trí bồi thường. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, 91, 98, 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Hình phạt bổ sung không đề nghị. Vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc đèn pin đội đầu. Trách nhiệm dân sự: Đề nghị công nhận sự thoả thuận giữa bị cáo và bị hại về việc bồi thường thiệt hại số tiền 2.000.000đ. Người bào chữa nhất trí tội danh và đề nghị áp dụng điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91, 98, 101 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp, đúng với quy định của pháp luật.
. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Triệu Tài C khai nhận: Khoảng 22h30 phút ngày 07/10/2022 bị cáo đã thực hiện trộm cắp chiếc xe mô tô Honda Wave RSX màu sơn đỏ đen biển kiểm soát 24Y1-189.72 dựng trước hiên nhà anh Triệu Tiến Q. Sau khi trộm cắp được xe, bị cáo mang xe đi cầm cố được số tiền 6.000.000đ và đã tiêu xài hết. Theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản thì trị giá chiếc xe bị cáo trộm cắp là 15.312.500đ. Như vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Bị cáo Triệu Tài C là người có năng lực trách nhiệm hình sự và hiểu biết pháp luật nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của cá nhân, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bên cạnh đó bị cáo còn là người có nhân thân xấu, từng nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị giáo dục tại xã về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo còn có 01 tiền sự bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng thời gian 18 tháng nhưng không tiến bộ. Mặc dù thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nhưng Hội đồng xét xử nhận thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không còn tác dụng răn đe đối với bị cáo, do đó cần tuyên phạt bị cáo một hình phạt nghiêm khắc là phạt tù để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên toà bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra thời điểm phạm tội bị cáo mới 17 tuổi 11 tháng 27 ngày nên cần áp dụng quy định về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại chiếc xe mô tô Honda Wave RSX màu sơn đỏ đen biển kiểm soát 24Y1-189.72 , đến nay bị hại không có yêu cầu gì về chiếc xe. Ngoài ra tại phiên toà bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường chi phí đi lại tìm xe là 2.000.000đ, bị cáo nhất trí với yêu cầu của bị hại. Xét thấy thoả thuận trên là tự nguyện và hợp pháp nên Hội đồng xét xử công nhận sự thoả thuận giữa bị cáo với bị hại.
. Các vấn đề có liên quan trong vụ án: Đối với anh Châu Văn S, quá trình điều tra xác định khi nhận cầm cố xe của bị cáo anh không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng pháp luật. Ngoài ra đối với số tiền anh S đưa cho bị cáo là 6.000.000đ, anh S không đề nghị bị cáo trả lại mà cho bị cáo số tiền này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 xe mô tô Honda Wave RSX màu sơn đỏ đen biển kiểm soát 24Y1-189.72 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Triệu Tiến Q, đã xử lý trả lại cho anh Q là đúng quy định. Ngoài ra còn thu giữ 01 đèn pin đội đầu của bị cáo, bị cáo không sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội và đến nay không đề nghị nhận lại nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu huỷ.
. Về đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo: Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về điều luật áp dụng đối với bị cáo là đúng, mức hình phạt chưa phù hợp do thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi và bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Tại phiên tòa bị cáo không đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Người bào chữa đề nghị xử phạt mức hình phạt với bị cáo là phù hợp.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91, 101 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Triệu Tài C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo 08 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/10/2022.
2. Trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 585, 589 Bộ luật dân sự
Công nhận sự thoả thuận giữa bị cáo và bị hại như sau: Bị cáo Triệu Tài C có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh Triệu Tiến Q và chị Triệu Thị E số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng).
Kể từ ngày bị hại có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 đèn pin đội đầu màu đen có dây chun dài 17cm, viền đầu đèn màu cam.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Triệu Tài C phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện Bảo Yên; - Công an huyện Bảo Yên; - Cơ quan THAHS công an tỉnh LC; - Sở tư pháp tỉnh LC; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Bị hại; - Người có QLNV liên quan; - Thi hành án hình sự; - Lưu HS,VP. Các Hội thẩm nhân dân | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã kí) Hoàng Thị Giang Thanh Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hoàng Thị Giang Thanh |