vanban.org

Bản án 20/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lƣơng Thanh H1 đối với bà Nguyễn Thị Kim O về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Lƣơng Thanh H1 đƣợc ly hôn với bà Nguyễn Thị Kim O (Giấy chứng nhận kết hôn số 02 quyển số 01 ngày 02/02/2004 do Ủy ban nhân dân xã T, thành phố T, tỉnh Thái Bình cấp). Về con chung: Giao 02 con chung tên Lƣơng Thanh H2, sinh ngày 03/12/2004 và Lƣơng Thanh T1, sinh ngày 14/8… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa nguyên đơn Lương Thanh H1 với bị đơn Nguyễn Thị Kim O"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lƣơng Thanh H1 đối với bà Nguyễn Thị Kim O về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ D1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 20/2022/HNGĐ-ST
Ngày 24-3-2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D1 T NH NH Ư NG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đức Lợi;

Bà Trần Thị Thu Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Ly - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố D1, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D1, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vƣơng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố D1, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 352/2021/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 34/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2022, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Ông Lƣơng Thanh H1, sinh năm 1980. Thƣờng trú: thôn T, xã T, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Tạm trú: khu trung tâm hành chính thành phố D1, khu phố N, phƣờng D1, thành phố D1, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1981. Thƣờng trú: thôn T, xã T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Tạm trú: khu trung tâm hành chính thành phố D1, khu phố N, phƣờng D1, thành phố D1, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.

NỘI UNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 11-11-2021, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lương Thanh H1 trình bày:

Ông Lƣơng Thanh H1 và bà Nguyễn Thị Kim O tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2004, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố T, tỉnh Thái Bình vào ngày 02/02/2004. Thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thƣờng xuyên xảy ra tranh cãi. Khi mâu thuẫn xảy ra vợ chồng đã tìm cách giải quyết mâu thuẫn, ông H1 đã cố gắng hàn gắn quan hệ hôn nhân nhƣng không có kết quả; hai bên gia đình không có ý kiến, để hai vợ chồng tự quyết định. Hiện nay, hai vợ chồng và con chung sống tại địa chỉ: khu trung tâm hành chính thành phố D1, khu phố N, phƣờng D1, thành phố D1, tỉnh Bình Dƣơng. Tuy nhiên, hai vợ chồng không còn quan hệ vợ chồng, không quan tâm đến cuộc sống của nhau, không khí gia đình luôn căng thẳng, ngột ngạt. Vì vậy, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết bao gồm:

- Về hôn nhân: yêu cầu đƣợc ly hôn với bà Nguyễn Thị Kim O.

- Về con chung: Yêu cầu giao 02 con chung tên Lƣơng Thanh H2, sinh ngày 03/12/2004 và Lƣơng Thanh T1, sinh ngày 14/8/2012 cho bà Nguyễn Thị Kim O trực tiếp nuôi dƣỡng. Ông Lƣơng Thanh H1 tự nguyện cấp dƣỡng nuôi con mỗi cháu 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Lƣơng Thanh H2 và Lƣơng Thanh T1 đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chứng cứ do nguyên đơn giao nộp gồm bản sao các tài liệu, chứng cứ: Căn cƣớc công dân của ông Lƣơng Thanh H1, chứng minh nhân dân của bà Nguyễn Thị Kim O, sổ hộ khẩu gia đình của ông Lƣơng Thanh H1, sổ tạm trú của ông Phạm Phi L1, giấy khai sinh của cháu Lƣơng Thanh H2, Lƣơng Thanh T1 và bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim O trình bày: Bà O thống nhất với lời trình bày của ông H1 về quá trình chung sống, cũng nhƣ về con chung và việc có đăng ký kết hôn. Bị đơn không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì quá trình sống chung 18 năm vợ chồng hạnh phúc tuy nhiên thời gian gần đây ông H1 có hành vi ngoại tình với ngƣời phụ nữ khác. Hai bên gia đình đã đứng ra dàn xếp hạnh phúc gia đình nhƣng ông H1 vẫn không thay đổi. Ông H1 đẩy trách nhiệm cho một mình bà O nuôi hai con để đi với ngƣời phụ nữ khác là thiếu trách nhiệm, hai vợ chồng không có mâu thuẫn nhƣng do ông H1 có ngƣời phụ nữ khác nên mới nộp đơn ly hôn. Bà O mong muốn vợ chồng hàn gắn để cùng xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D1, tỉnh Bình Dƣơng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thƣ ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định; không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật là ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã đƣợc Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa nhận thấy mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa ông H1 và bà O là trầm trọng, không hàn gắn đoàn tụ đƣợc nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lƣơng Thanh H1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn ông Lƣơng Thanh H1 khởi kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Kim O tạm trú tại khu trung tâm hành chính thành phố D1, khu phố N, phƣờng D1, thành phố D1, tỉnh Bình Dƣơng nên căn cứ theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố D1, tỉnh Bình Dƣơng; quan hệ pháp luật tranh chấp là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Về quan hệ hôn nhân: Ông H1 và bà O có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố T, tỉnh Thái Bình và đƣợc cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 02/02/2004 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Ông H1 xác định quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt đƣợc mục đích đó vợ chồng cần phải thƣơng yêu, tin tƣởng, quý trọng, chăm sóc, cùng nhau vun đắp, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Đây cũng là nghĩa vụ của vợ, chồng đƣợc quy định tại Điều 19, Điều 21 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Bà O không đồng ý ly hôn nhƣng không đƣa ra đƣợc giải pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng, ông H1 kiên quyết xin ly hôn. Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định quan hệ hôn nhân giữa ông H1 và bà O đã trầm trọng nên việc ông H1 yêu cầu ly hôn với bà O là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Ông H1 và bà O có 02 con chung tên Lƣơng Thanh H2, sinh ngày 03/12/2004 và Lƣơng Thanh T1, sinh ngày 14/8/2012, ông H1 yêu cầu giao 02 con chung cho bà O nuôi dƣỡng. Xét thấy, cháu H2 và cháu T1 đang sống chung với bà O và có nguyện vọng sống với bà O, bà O có đủ điều kiện để nuôi con phát triển bình thƣờng. Do vậy, Hội đồng xét xử giao cháu H2 và cháu T1 cho bà O trực tiếp nuôi dƣỡng là phù hợp. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lƣơng Thanh H1 cấp dƣỡng nuôi con mỗi cháu 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Lƣơng Thanh H2 và Lƣơng Thanh T1 đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đƣơng sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D1, tỉnh Bình Dƣơng.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lƣơng Thanh H1 đối với bà Nguyễn Thị Kim O về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Lƣơng Thanh H1 đƣợc ly hôn với bà Nguyễn Thị Kim O (Giấy chứng nhận kết hôn số 02 quyển số 01 ngày 02/02/2004 do Ủy ban nhân dân xã T, thành phố T, tỉnh Thái Bình cấp).

- Về con chung: Giao 02 con chung tên Lƣơng Thanh H2, sinh ngày 03/12/2004 và Lƣơng Thanh T1, sinh ngày 14/8/2012 cho bà Nguyễn Thị Kim O trực tiếp nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lƣơng Thanh H1 cấp dƣỡng nuôi con mỗi cháu 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Lƣơng Thanh H2 và Lƣơng Thanh T1 đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật, ngƣời đƣợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ngƣời phải thi hành án chƣa thi hành xong số tiền phải thi hành thì còn phải trả lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con theo quy định pháp luật. Sau khi ly hôn, ngƣời không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai đƣợc cản trở. Ngƣời không trực tiếp nuôi con nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hƣởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con thì ngƣời đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ngƣời không trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con chƣa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và mức cấp dƣỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí:

- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Lƣơng Thanh H1 phải chịu 300.000 đồng đƣợc khấu trừ 300.000 đồng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003146 ngày 15 tháng 11 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố D1, tỉnh Bình Dƣơng.

- Án phí cấp dƣỡng nuôi con: Ông Lƣơng Thanh H1 phải chịu 300.000 đồng.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ