vanban.org

Bản án 20/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Cẩm Thúy_Trương Văn Thảo"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TH
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 10– 5 – 2022
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CH NGHĨA IỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TH , TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Diệu Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đông Hà 2. Bà Nguyễn Thị Tua

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trung Toàn – Thẩm tra viên - Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Th tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Mỹ Phương - Kiểm sát viên. Trong ngày 10 tháng 5 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 214/2021/TL.ST-HNGĐ, ngày 30 tháng 11 năm 2021 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 63/2022/QDST HNGĐ ngày 27/4/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Hoàng Cẩm Th, sinh năm 1996; địa chỉ: ấp 7A2, xã VTH, huyện VT, tỉnh H (vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Trương Văn Th, sinh năm 1988; địa chỉ ấp 7A2, xã VTH, huyện VT, tỉnh H (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 30/11/2021 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Hoàng Cẩm Th trình bày:

Tôi và chồng tôi ông Trương Văn Th được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn ngày năm 2015, tại Ủy ban nhân dân xã VTH, huyện VT, tỉnh H. Thời gian đầu, tôi và chồng tôi chung sống hòa thuận, hạnh phúc, nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn, không thể giải quyết, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, chồng tôi không chăm lo cuộc sống gia đình, tôi đã khuyên can nhiều lần nhưng chồng tôi không sửa đổi. Nhận thấy, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên tôi quyết định ly hôn với ông Th, tôi và chồng tôi đã không còn chung sống với nhau từ tháng 2019 cho đến nay. Về con chung; tài sản chung và nợ chung: Không có.

Quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn Trương Văn Th vắng mặt, chưa ghi nhận được ý kiến.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Về thủ tục tố tụng: Xác định việc thụ lý, hòa giải, thu thập chứng cứ cũng như thủ tục tố tụng tại phiên tòa của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Cẩm Th được ly hôn với ông Trương Văn Th. Về con chung, nợ chung; tài sản chung không có nên không xem xét.

NHẬN Đ NH C A TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Hoàng Cẩm Th khởi kiện ông Trương Văn Th yêu cầu được ly hôn, nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Vị Thủy theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn ông Trương Văn Th đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn.

[3] Về quan hệ hôn nhân: bà Hoàng Cẩm Th và ông Trương Văn Th tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn năm 2015, tại Ủy ban nhân dân xã Vị Thanh, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang. Quá trình chung sống giữa bà Thúy và ông Thảo phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Bà Th và ông Th không còn chung sống với nhau từ năm 2019 đến nay. Xét thấy quá trình tố tụng, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần để tiến hành hòa giải, động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng ông Th không đến Tòa án để giải quyết, từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa bà Th và ông Th là trầm trọng, đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt, hôn nhân không thể kéo dài nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Th.

[4] Về con chung; nợ chung; tài sản chung đương sự khai không có nên không xem xét.

[5] Về án phí: nguyên đơn bà Hoàng Cẩm Th phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân & gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Cẩm Th được ly hôn với ông Trương Văn Th.

Về án phí: Bà Hoàng Cẩm Th phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng). Chuyển 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng), tiền tạm ứng án phí bà Hoàng Cẩm Th đã nộp theo biên lai số 0002617 ngày 30 tháng 11 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy thành tiền án phí (bà Th đã nộp xong).

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ