- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận cho bà Lư Thị Ngọc Th được ly hôn với ông Ngô Văn Th1.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2022/HNGĐ-ST Ngày: 23-5-2022 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Tím
Bà Ngô Thị Oanh Kiều
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chế Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú tham gia phiên tòa: không có.
Trong ngày 23 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 84/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2022/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lư Thị Ngọc Th, sinh năm 1977 (đề nghị xét xử vắng mặt);
- Bị đơn: Ông Ngô Văn Th1, sinh năm 1974 (đề nghị xét xử vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp LC1, xã LNA, huyện TrC, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 15/02/2022 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lư Thị Ngọc Th trình bày: bà và ông Ngô Văn Th1 kết hôn vào năm 1996 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lưu Nghiệp Anh, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Sau khi cưới thì vợ chồng về sống bên chồng tại ấpLC1, xã LNA. Qúa trình chung sống vợ chồng có với nhau một người con chung là Ngô Thị Diễm M, sinh năm 1996. Thời gian đầu vợ chồng sống rất hạnh phúc, luôn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, nhưng đến năm 1998 thì vợ chồng mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Th1 thường xuyên có tính ghen tuông vô cớ, thường mượn rượu chửi bới bà thậm tệ, xúc phạm đến danh dự nhân phẩm bà, ông Th1 đánh đập bà rất tàn nhẫn mà người thân can ngăn vẫn không được, bất cứ khi bà đang ở nơi đâu nếu ông Th1 nổi cơn ghen là đánh đập tại chỗ, có lần đánh bà thương tích đầy người phải nhập viện. Từ đó, do không chịu nổi nên đến năm 2007 bà đưa con về nhà cha mẹ ruột sinh sống và cũng từ đó vợ chồng ly thân đến nay. Từ khi ly thân hai bên không bên nào tạo điều kiện hàn gắn. Đến nay nhận thấy thời gian vợ chồng ly thân đã lâu, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm chăm sóc nhau nữa, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên không thể tiếp tục chung sống với nhau. Nay bà khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Ngô Văn Th1, về con chung đã trưởng thành và có gia đình riêng nên không yêu cầu giải quyết, về tài sản chung và nợ chung thì không có.
Tại đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 18/5/2022, bị đơn ông Ngô Văn Th1 trình bày: về quan hệ hôn nhân ông đồng ý ly hôn với bà Lư Thị Ngọc Th; về con chung là Ngô Thị Diễm M nay đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết; về tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Thủ tục xét xử vắng mặt tất cả đương sự: Nguyên đơn bà Lư Thị Ngọc Th và bị đơn ông Ngô Văn Th1 đều có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Lư Thị Ngọc Th và ông Ngô Văn Th1 theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn: Xét thấy bà Lư Thị Ngọc Th và ông Ngô Văn Th1 kết hôn vào năm 1997 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lưu Nghiệp Anh, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, tại giấy chứng nhận kết hôn số 06 ngày 15 tháng 02 năm 1997 nên hôn nhân giữa bà Lư Thị Ngọc Th và ông Ngô Văn Th1 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân mâu thuẫn theo trình bày của bà Ngọc Thảo là ông Th1 có hành vi chửi, đánh và xúc phạm danh dự bà Ngọc Th, do mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên bà Ngọc Th và ông Th1 đã ly thân từ năm 2007 và đến nay bà Ngọc Th quyết định khởi kiện xin được ly hôn với ông Ngô Văn Th1.
Hội đồng xét xử xét thấy: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải để bà Ngọc Thảo và ông Th1 đoàn tụ với nhau, cùng xây dựng gia đình hạnh phúc, tuy nhiên bà Th vẫn một mực cương quyết xin được ly hôn còn ông Th1 thì vắng mặt tại các buổi hòa giải và sau đó có đơn xin giải quyết vắng mặt, nội dung đơn thể hiện ông Th1 cũng đồng ý ly hôn với bà Ngọc Th.
Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Lư Thị Ngọc Th và ông Ngô Văn Th1 đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng phát sinh mâu thuẩn từ năm 1998 cho đến năm 2007 thì ly thân đến nay, chứng tỏ tình cảm vợ chồng đã thật sự rạn nứt, khó có thể hàn gắn được. Do đó, căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đề nghị của bà Lư Thị Ngọc Th ly hôn với ông Ngô Văn Th1 là phù hợp.
Về con chung: Ngô Thị Diễm M, sinh năm 1996, đã trưởng thành và các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: bà Lư Thị Ngọc Th và ông Ngô Văn Th1 đều xác nhận vợ chồng không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bà Lư Thị Ngọc Th phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 28; khoản 1 Điều 35, Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 238, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:
1. Chấp nhận cho bà Lư Thị Ngọc Th được ly hôn với ông Ngô Văn Th1.
2. Về án phí: Bà Lư Thị Ngọc Th phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp trước là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0009695 ngày 16/02/2022 của Chi cục Thi hành án huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh nên bà Th không phải nộp tiếp.
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Trà Vinh;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Trà Cú;
- Chi cục THADS huyện Trà Cú;
- UBND xã LNA;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Lê Thị Duyên
THẨM PHÁN
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Oanh Kiều
Trần Thị Tím
Lê Thị Duyên
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Trà Cú; - UBND xã Lưu Nghiệp Anh; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Duyên |