vanban.org

Bản án 20/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tr T Nh

Về hôn nhân: Chị Tr T Nh được ly hôn với anh Tr V B. Về con chung: Giao chị Tr T Nh trực tiếp trôm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Trịnh Kiến Văn, sinh ngày 06 tháng 11 năm 2012. Ghi nhận chị Tr T Nh không yêu cầu anh Tr V B cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tran Thi Nh ly hon Trinh V B"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tr T Nh
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN BIÊN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2022/HNGĐ-ST
Ngày 06-5-2022
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi
ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tuấn.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hồ Thị Mỹ Phượng;

2. Bà Trần Thị Bạch Tuyết.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 369/2021/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2021/QĐXXST- HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Tr T Nh, sinh năm 1988;

Cư trú tại: Ấp T N, xã T b, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Tr V B, sinh năm 1983;

Cư trú tại: Ấp H Đ, xã H h, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 11 năm 2021 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Tr T Nh trình bày:

Về hôn nhân: Chị Tr T Nh và anh Tr V B tự nguyện chung sống vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại Ủy Ban nhân dân xã H h, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh vào năm 2011. Quá trình vợ, chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi nhau anh B có lời nói thiếu tôn trọng chị nên chị và anh B đã không còn chung sống vợ chồng cho đến nay, không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc nhau, tình cảm vợ chồng không còn, chị Nhớ yêu cầu được ly hôn anh B.

Về con chung: Chị Tr T Nh và anh Tr V B có 01 con chung tên Trịnh Kiến Văn, sinh ngày 06 tháng 11 năm 2012, hiện con chung đang sống với chị Nhớ, chị có nguyện vọng được nuôi cháu Văn, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Tr T Nh không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ nhưng bị đơn anh Tr V B vắng mặt không có lý do.

Kết quả thu thập chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử xác định anh Tr V B hiện đang cư trú tại ấp H Đ, xã H h, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh và tình trạng hôn nhân giữa chị Tr T Nh và anh Tr V B có mâu thuẫn trầm trọng, đã không còn chung sống vợ chồng từ năm 2015 cho đến nay.

Tại phiên toà sơ thẩm:

Chị Tr T Nh và anh Tr V B vắng mặt

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi vụ án thụ lý, quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán và tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ theo trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Tr T Nh đối với anh Tr V B.

Về con chung: Giao chị Tr T Nh trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Trịnh Kiến Văn, sinh ngày 06 tháng 11 năm 2012. Ghi nhận chị Nhớ không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về án phí: Chị Tr T Nh phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm;

Về kiến nghị khắc phục: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến đại diện Viện kiểm sát. Tòa án nhân dân Huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Tr T Nh yêu cầu ly hôn, giải quyết về con chung khi ly hôn với anh Tr V B là tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn được quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn có nơi cư trú tại xã H h, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết Toà án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

Về vắng mặt của đương sự: Chị Trần Thì Nhớ có đơn yêu cầu giải quyết xét xử vắng mặt; anh Tr V B đã được tống đạt hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 1,3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Nhớ, anh B.

Nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị Tr T Nh và anh Tr V B tự nguyện chung sống vợ, chồng và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H h, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh vào năm 2011, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét tình trạng hôn nhân của chị Tr T Nh và anh Tr V B, Hội đồng xét xử xét thấy: Tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Nhớ và anh B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, phù hợp với lời trình bày của chị Nhớ trong quá trình giải quyết vụ án. Nay chị Tr T Nh yêu cầu ly hôn với anh Tr V B là có căn cứ, phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị Tr T Nh và anh Tr V B có 01 con chung là: Trịnh Kiến Văn, sinh ngày 06 tháng 11 năm 2012, hiện nay cháu Văn đang được chị Nhớ trực tiếp nuôi dưỡng và cháu Văn cũng có nguyện vọng được sống với chị Nhớ nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, giao cháu Văn cho chị Nhớ trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Ghi nhận chị Tr T Nh không yêu cầu anh Tr V B cấp dưỡng nuôi con.

Anh Tr V B không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Tr T Nh không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Tr V B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng không trình bày ý kiến, vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị Tr T Nh phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tr T Nh

Về hôn nhân: Chị Tr T Nh được ly hôn với anh Tr V B.

Về con chung: Giao chị Tr T Nh trực tiếp trôm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Trịnh Kiến Văn, sinh ngày 06 tháng 11 năm 2012. Ghi nhận chị Tr T Nh không yêu cầu anh Tr V B cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, chị Nhớ cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở. Anh B không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

2. Về án phí: Chị Tr T Nh phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003619 ngày 23 tháng 11 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh; chị Tr T Nh đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Chị Tr T Nh và anh Tr V B có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

4. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ