vanban.org

Bản án 20/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Đặng Thị Đ

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị Đ được ly hôn với ông Đinh Xuân T Về con chung: Giao con chung Đinh Xuân H, sinh ngày 21/10/2015 cho bà Đặng Thị Đ trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành (Tròn18 tuổi). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị Đ - Đinh Xuân T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Đặng Thị Đ
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆ N EAKAR
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2022/HNGĐ - ST
Ngày: 29/4/2022
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƢỚ C CỘ NG HÒ A XÃ HỘ I CHỦ NGHĨ A VIỆ T NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩ m phá n - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nhã Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Hằng và ông Lê Khắc Dũng.

- Thư ký phiên toà: Ông Hồ Quốc Nam - Chứ c vụ : Thư ký Tòa án nhân dân huyệ n EaKar, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện EaKar tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Tiến - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 29/4/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk. Toà án nhân dân huyện EaKar mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 08/2022/TLST – HNGĐ, ngày 10 tháng 01 năm 2022. Về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2022/QĐXXST – HNGĐ, ngày 28 tháng 03 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2022/QĐST – HNGĐ, ngày 13 tháng 4 năm 2022. Giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Đ, sinh năm 1982 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ:Thôn 3, xã E, huyện E, tỉnh Đ.

*Bị đơn: Ông Đinh Xuân T, sinh năm 1977(Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 3, xã E, huyện E, tỉnh Đ.

NHẬN THẤY

Nội dung vụ án như sau:

Bà Đặng Thị Đ kết hôn với ông Đinh Xuân T trên cơ sở tự nguyện, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện E, tỉnh Đ vào năm 2001.

Vợ chồng chung sống với nhau thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cải vã, nguyên nhân là do vợ chồng số n g không hợ p tí nh, ghen tuông, bất đồng quan điểm sống, thiếu sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn, chung sống với nhau cũng không có hạnh phúc, không còn yêu thương và chăm sóc cho nhau nữa nên bà Đặng Thị Đ có nguyện vọng được ly hôn với ông Đinh Xuân T.

* Về con chung: Bà Đ và ông T có có 02 con chung là Đinh Xuân H, sinh ngày 21/10/2015 và Đinh Thành K, sinh ngày 16/12/2001

Nguyện vọng về con chung: Bà Đ có nguyện vọng chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Đinh Xuân Hải sinh năm 2015 đến tuổi trưởng thành, còn Đinh Thành K đã đủ 18 tuổi nên không đề cập

Về cấp dưỡng: Không yêu cầu tòa án giải quyết

Về tài sản chung và nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đề cập.

Đối với bị đơn: Ông T đã được tòa án tiến hành niêm yết tống đạt các văn bản tố tụng đúng theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt mà không có lý do nên không ghi nhận được ý kiến của ông T.

Tại biên bản lấy lời khai, cháu Đinh Xuân H có nguyện vọng được ở với

mẹ là bà Đặng Thị Đ

Ngày 13/4/2022, Tòa án nhân dân huyện EaKar mở phiên tòa xét xử vụ án, tuy nhiên tại phiên tòa bị đơn ông Đinh Xuân T vắng mặt lần thứ nhất không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Đinh Xuân T vắng mặt lần thứ hai, căn cứ khoản 2 Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xét xử vắng mặt các đương sự. Qúa trình hòa giải và tại đơn xin xét xử vắng mặt, bà Đặng Thị Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Hội đồng xét xử xem xé t giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đinh Xuân T. Bà Đ có nguyện vọng nuôi dưỡng và chăm sóc Đinh Xuân H đến tuổi trưởng thành (tròn 18 tuổi), còn Đinh Thành K đã đủ 18 tuổi nên không đề cập, đồng thời sẽ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung và nợ chung không đề nghị tòa án đề cập.

Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và HĐXX đã tuân thủ đúng các quy định về trình tự thủ tục theo quy định của BLTTDS về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56 Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện, cho Bà Đặng Thị Đ được ly hôn với ông Đinh Xuân T. Giao con chung là Đinh Xuân H, sinh ngày sinh ngày 21/10/2015 cho bà Đặng Thị Đ nuôi dưỡng và chăm sóc đến tuổi trưởng thành (tròn 18 tuổi), còn Đinh Thành K đã đủ 18 tuổi nên không đề cập.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đề cập.

- Áp dụng Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để tính án phí theo đúng quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và ý kiến của đương sự, quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đơn khởi kiện của bà Đặng Thị Đ đề ngày 05/01/2022, Tòa án nhân dân huyện EaKar xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, được quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân huyện EaKar thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[2] Về thủ tục mở phiên tòa vắng mặt các đương sự: Tòa án nhân dân huyện EaKar đã tiến hành tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2022/QĐXXST – HNGĐ, ngày 28 tháng 03 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2022/QĐST – HNGĐ, ngày 13 tháng 4 năm 2022 cho các đương sự. Tuy nhiên tại phiên toà hôm nay, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về nội dung: Bà Đặng Thị Đ kết hôn với ông Đinh Xuân T trên cơ sở tự nguyện, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện E, tỉnh Đ vào năm 2001 là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi về chung sống hạnh phúc được một thời gian thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp tính, ghen tuông, bất đồng quan điểm sống. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, chung sống với nhau cũng không có hạnh phúc, không còn yêu thương và chăm sóc cho nhau nữa nên bà Đ có nguyện vọng được ly hôn với ông Đinh Xuân T.

Qua xác minh tại chính quyền địa phương xác định không rõ nguyên nhân mâu thuẫn của bà Đ và ông T là gì, không báo chính quyền địa phương nhưng cuộc sống của vợ chồng ông thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cải vã.

Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Đ, cho bà Đặng Thị Đ được ly hôn với ông Đinh Xuân T.

Về con chung: Bà Đ và ông T có 02 con chung là Đinh Xuân H, sinh ngày 21/10/2015 và Đinh Thành K, sinh ngày 16/12/2001

Bà Đ có nguyện vọng chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Đinh Xuân H sinh năm 2015 đến tuổi trưởng thành,còn Đinh Thành K đã đủ 18 tuổi nên không đề cập.Tại bản tự khai, cháu H có nguyện vọng được ở với mẹ Đặng Thị Đ. Để đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh về tâm, sinh lý, cũng như để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các cháu là hoàn toàn phù hợp và thỏa đáng nên căn cứ Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cháu Đinh Xuân H, sinh ngày 21/10/2015 và cho bà Đặng Thị Đ trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành (Tròn18 tuổi).

Về trợ cấp nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đề cập.

[4] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí nguyên đơn Đặng Thị Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 203, điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228, và Điều 266 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Đặng Thị Đ

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị Đ được ly hôn với ông Đinh Xuân T

- Về con chung: Giao con chung Đinh Xuân H, sinh ngày 21/10/2015 cho bà Đặng Thị Đ trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành (Tròn18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hộ i đồ ng xét xử không đề cập.

Ông Đinh Xuân T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Tuy nhiên, ông Đinh Xuân T không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết, các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung.

- Về tài sản chung và công nợ: Đương sự không yêu cầ u giải quyết nên Tòa án không đề cập.

- Về án phí: Bà Đặng Thị Đ phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ea Kar, theo biên lai thu tạm ứng án phí số 60AA/2021/0005775, ngày 07/01/2022.

- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ