vanban.org

Bản án 20/2022/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về việc xác định cha cho con: Xác định anh Phạm Xuân O là cha đẻ của cháu Phạm Quang H3, sinh ngày 22/02/2011.

Anh Phạm Xuân O, chị Phạm Thị D có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bổ sung thông tin phần cha vào giấy khai sinh của cháu Phạm Quang H3. Về chi phí giám định: Anh Phạm Xuân O tự nguyện chịu chi phí giám định gen (ADN). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Xuân O - Phạm Thị D"
  • Tòa quyết gì? Về việc xác định cha cho con: Xác định anh Phạm Xuân O là cha đẻ của cháu Phạm Quang H3, sinh ngày 22/02/2011.
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2022/HNGĐ-ST
Ngày 04/5/2022. V/v: Tranh
chấp về Xác định cha cho con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Tuyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Tiến Thịnh;

2. Ông Phạm Đức Toàn.

- Thƣ ký phiên toà: Bà Phạm Khánh Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Hà Vĩnh Châm - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 130/2021/HNGĐ-ST ngày 12 tháng 11 năm 2021 về Tranh chấp xác định cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2022/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2022 giữa:

1. Nguyên đơn: Anh Phạm Xuân O, sinh năm 1976.

Nơi ĐKHKTT: Tổ 1, phường K, thành phố T, tỉnh T.

Chỗ ở hiện nay: Số nhà 10, ngõ 283, đường T1, tổ 12, phường T1, thành phố T, tỉnh T.

2. Bị đơn: Chị Phạm Thị D, sinh năm 1980.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã Đ, huyện G, tỉnh H.

Chỗ ở hiện nay: Số nhà 10, ngõ 283, đường T1, tổ 12, phường T1, thành phố T, tỉnh T.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Trọng H1, sinh năm 1962.

Nơi cư trú: Thôn H2, xã Đ1, huyện Đ2, tỉnh T.

(Tại phiên tòa vắng mặt tất cả các đương sự).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và lời khai, nguyên đơn anh Phạm Xuân O trình bày và có yêu cầu như sau:

Năm 2010 anh Phạm Xuân O và chị Phạm Thị D có quan hệ tình cảm với nhau, ngày 22/02/2011 chị D đã sinh cháu Phạm Quang H3, cháu H3 đã đăng ký khai sinh theo hộ khẩu của chị D, khi đó chị D chưa ly hôn với chồng cũ là anh Lê Trọng H1. Ngày 23.11.2020 chị D và anh H1 giải quyết ly hôn. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 138/2020/QĐST-HNGĐ ngày 23/11/2020 giữa anh H1 và chị D, Tòa án nhân dân huyện G1, tỉnh H chưa giải quyết về con chung và không xác định cháu Phạm Quang H3 là con chung của anh H1 và chị D.

Nay anh O đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình tiến hành giám định ADN giữa anh O và cháu Phạm Quang H3 để xác định anh O là cha đẻ của cháu Phạm Quang H3.

* Tại bản tự khai và các tài liệu chứng cứ đã xuất trình, chị Phạm Thị D trình bày:

Ngày 22/02/2011 chị D đã sinh cháu Phạm Quang H3, cháu H3 đã đăng ký khai sinh theo hộ khẩu của chị D, khi đó chị D đang sống chung với chồng cũ là anh Lê Trọng H1. Ngày 23.11.2020 chị D và anh H1 giải quyết ly hôn. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 138/2020/QĐST-HNGĐ ngày 23/11/2020 giữa chị D và anh H1, Tòa án nhân dân huyện G1, tỉnh H không xác định cháu Phạm Quang H3 là con chung của chị Phạm Thị D và anh Lê Trọng H1.

Nay anh Phạm Xuân O đề nghị Tòa án xác định anh O là cha đẻ của cháu Phạm Quang H3, chị D đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu của anh O theo quy định của pháp luật.

Tòa án yêu cầu chị D cung cấp địa chỉ hiện tại của anh Lê Trọng H1 nhưng chị D không biết địa chỉ hiện tại của anh H1 vì chị D và anh H1 đã ly hôn. Chị D không biết hiện nay anh H1 đang làm gì, ở đâu, chị D không có thông tin gì với anh H1.

* Lời khai tại Tòa án nhân dân huyện G1, tỉnh H, anh Lê Trọng H1 trình bày:

Về hôn nhân: Anh H1 và chị D kết hôn với nhau vào năm 2002, việc kết hôn là tự nguyện, được UBND xã Đ3, huyện Đ2, tỉnh T cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc trong thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hòa hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2003 đến nay. Đề nghị Tòa án giải quyết cho anh H1 được ly hôn chị D. Về con chung: Anh H1 và chị D không có con chung. Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Bản kết luận giám định ADN số 23022022/CNT ngày 23 tháng 02 năm 2022 của Công ty cổ phần C kết luận: Phạm Xuân O có quan hệ huyết thống Cha - Con với Phạm Quang H3 với xác suất 99.9999%.

* Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến:

1. Về tố tụng:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán đã xác định đúng thẩm quyền và thụ lý vụ án; thực hiện đầy đủ các thủ tục cấp, tống đạt các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử và thời hạn chuẩn bị xét xử được thực hiện đúng theo thủ tục tố tụng dân sự.

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Về thành phần tham gia xét xử và việc tiến hành thủ tục tố tụng tại phiên tòa được thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật.

- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến nay nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình, có bản tự khai, giao nộp các tài liệu, chứng cứ tham gia đầy đủ theo triệu tập của Tòa án phục vụ cho việc giải quyết vụ án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có mặt tại Tòa án để tham gia giải quyết vụ án là chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.

2. Về nội dung - Đề nghị:

Căn cứ vào Điều 227, Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 101, 102 Luật hôn nhân và gia đình; điểm b Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về yêu cầu xác định cha cho con của anh Phạm Xuân O: Tại Bản kết luận giám định ADN số 23022022/CNT ngày 23 tháng 02 năm 2022 của Công ty cổ phần Công Nghệ gen ứng dụng Việt Nam kết luận: Phạm Xuân O có quan hệ huyết thống Cha - Con với Phạm Quang H3 với xác suất 99.9999%. Đề nghị xác định anh Phạm Xuân O là cha đẻ của cháu Phạm Quang H3.

2. Về chi phí giám định gen: Anh Phạm Xuân O tự nguyện chịu chi phí giám định gen.

3. Về án phí: Anh Phạm Xuân O được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thủ tục tố tụng: Anh Phạm Xuân O và chị Phạm Thị D đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Lê Trọng H1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ theo Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án theo trình tự vắng mặt tất cả các đương sự.

* Về thẩm quyền: Anh Phạm Xuân O và chị Phạm Thị D đều có nơi cư trú trên địa bàn thành phố Thái Bình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

* Về nội dung vụ án:

1. Về yêu cầu xác định cha cho con của anh Phạm Xuân O: Anh Phạm Xuân O trình bày: Đầu năm 2010 anh O và chị D có quan hệ tình cảm với nhau, ngày 22/02/2011 chị D đã sinh cháu Phạm Quang H3. Chị D trình bày: Ngày 22/02/2011 chị D sinh cháu Phạm Quang H3. Anh Lê Trọng H1 trình bày: Anh H1 và chị D kết hôn năm 2002 và không có con chung.

Anh H1 và chị D đã giải quyết ly hôn năm 2020. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 138/2020/QĐST-HNGĐ ngày 23/11/2020 giữa anh H1 và chị D, Tòa án nhân dân huyện G1, tỉnh H không giải quyết về con chung.

Tại Bản kết luận giám định ADN số 23022022/CNT ngày 23 tháng 02 năm 2022 của Công ty cổ phần C kết luận: Phạm Xuân O có quan hệ huyết thống Cha - Con với Phạm Quang H3 với xác suất 99.9999%. Hội đồng xét xử xác định anh Phạm Xuân O là cha đẻ cháu Phạm Quang H3, nhằm xác lập quan hệ huyết thống, đạo đức, pháp lý giữa cha và con.

2. Chi phí giám định: Chấp nhận việc anh Phạm Xuân O tự nguyện chịu chi phí giám định gen (ADN), (Anh O đã nộp đủ).

3. Về án phí: Anh Phạm Xuân O được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 101, Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình; điểm b Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về việc xác định cha cho con: Xác định anh Phạm Xuân O là cha đẻ của cháu Phạm Quang H3, sinh ngày 22/02/2011.

Anh Phạm Xuân O, chị Phạm Thị D có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bổ sung thông tin phần cha vào giấy khai sinh của cháu Phạm Quang H3.

2. Về chi phí giám định: Anh Phạm Xuân O tự nguyện chịu chi phí giám định gen (ADN).

3. Về án phí: Anh Phạm Xuân O được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự đều vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hợp lệ./.

Cỡ chữ