vanban.org

Bản án 20/2022/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Hoa Ph.

Buộc bà Trần Thị L và ông Võ Văn Bé E cùng có trách nhi m liên đới trả cho bà Huỳnh Hoa Ph số tiền nợ hụi là 134.400.000 đồng (Một trăm ba mươi bốn triệu bốn trăm nghìn đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các hoản tiền phải trả cho người được thi hành án)… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "tranh chấp nợ hụi giữa bà Ph với bà L, ông E"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Hoa Ph.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LAI VUNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2022/DS-ST
Ngày: 05-5-2022.
“V/v tranh chấp về dân sự -
Hợp đồng hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Phát Triển;

2. Ông Nguyễn Duy Oanh.

- Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Phát Đạt - Thư Toà án nhân dân huy n Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cẩm Dang – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 5 năm 2022, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huy n Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công hai vụ án thụ l số: 348/2021/TLST-DS ngày 15 tháng 11 năm 2021, “V/v tranh chấp về dân sự - Hợp đồng hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2022/QĐXXST-DS ngày 13/4/2022 và thông báo về vi c thay đổi thời gian mở lại phiên tòa số 22/TB-TA ngày 25/4/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Huỳnh Hoa Ph, sinh năm 1966.

Địa chỉ: Số nhà 485, Khóm A, thị trấn L, huy n Lai V, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Trần Thị L, sinh năm 1965.

Địa chỉ: Số 143/TLB, ấp B, xã Tân D, huy n Lai V, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Võ Văn Bé E, sinh năm 1965.

Địa chỉ: Số 143/TLB, ấp B, xã Tân D, huy n Lai V, tỉnh Đồng Tháp.

(Bà Ph, bà L và ông Bé E đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 28/10/2021, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Huỳnh Hoa Ph trình bày: Trước đây, bà Ph có tham gia hụi với tư cách là hụi viên do bà L làm chủ hụi cụ thể như sau:

Dây hụi thứ nhất: Hụi hui ngày 10/02/2020 dương lịch, giá hụi 2.000.000 đồng, một tháng hui hụi một lần, gồm có 20 phần, bà Ph tham gia chơi 05 phần, hụi mãn ngày 10/9/2021. Dây hụi này, bà Ph chưa hốt hụi và đóng được 12 lần, mỗi lần 7.700.000 đồng, tổng cộng là 92.400.000 đồng.

Dây hụi thứ hai: Hụi hui ngày 25/4/2020 âm lịch, giá hụi 10.000.000 đồng là hụi tháng, gồm có 20 phần, bà Ph tham gia chơi 01 phần, hụi mãn ngày 25/10/2021. Dây hụi này, bà Ph chưa hốt hụi và đóng được 05 lần, mỗi lần 8.400.000 đồng, tổng cộng là 42.000.000 đồng.

Tổng cộng 02 dây hụi bà Ph đã đóng được 134.400.000 đồng (Một trăm ba mươi bốn tri u bốn trăm nghìn đồng). Nay bà Ph yêu cầu Tòa án buộc bà Trần Thị L và ông Võ Văn Bé E cùng liên đới trả lại cho bà Ph số tiền hụi đã đóng là 134.400.000 đồng (Một trăm ba mươi bốn triệu bốn trăm nghìn đồng), không yêu cầu trả lãi.

Ngày 07/12/2021, bà Ph có nộp cho Tòa án bản tường trình yêu cầu Tòa án nhân dân huy n Lai Vung chuyển hồ sơ cho Cơ quan công an huy n Lai Vung để điều tra hành vi phạm tội lạm dụng tín nhi m chiếm đoạt tài sản của bà Trần Thị L.

Ngày 05/4/2022, bà Ph có nộp cho Tòa án văn bản hông đồng hòa giải và yêu cầu Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án.

Tại phiên tòa, bà Ph yêu cầu bà Trần Thị L và ông Võ Văn Bé E cùng liên đới trả lại cho bà Ph số tiền hụi đã đóng là 134.400.000 đồng (Một trăm ba mươi bốn triệu bốn trăm nghìn đồng), hông yêu cầu trả lãi và yêu cầu trả một lần.

- Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn Trần Thị L trình bày: Bà L thừa nhận đúng như lời trình bày của nguyên đơn là bà L có làm chủ hụi và còn nợ các dây hụi cụ thể như sau:

Dây hụi thứ nhất: Hụi hui ngày 10/02/2020 dương lịch, giá hụi 2.000.000 đồng, một tháng hui hụi một lần, gồm có 20 phần, bà Ph tham gia chơi 05 phần, hụi mãn ngày 10/9/2021. Dây hụi này, bà Ph chưa hốt hụi và đóng được 12 lần, mỗi lần 7.700.000 đồng, tổng cộng là 92.400.000 đồng.

Dây hụi thứ hai: Hụi hui ngày 25/4/2020 âm lịch, giá hụi 10.000.000 đồng là hụi tháng, gồm có 20 phần, bà Ph tham gia chơi 01 phần, hụi mãn ngày 25/10/2021. Dây hụi này, bà Ph chưa hốt hụi và đóng được 05 lần, mỗi lần 8.400.000 đồng, tổng cộng là 42.000.000 đồng.

Tổng cộng 02 dây hụi bà Ph đã đóng được 134.400.000 đồng (Một trăm ba mươi bốn tri u bốn trăm nghìn đồng). Bà L thống nhất cùng ông Võ Văn Bé E liên đới trả cho bà Ph số tiền nợ hụi là 134.400.000 đồng (Một trăm ba mươi bốn triệu bốn trăm nghìn đồng) và đề nghị bà Ph cho bà L thời gian từ từ để bà L làm vi c có tiền trả nợ và bán được đất trả nợ. Vì hi n nay, bà L hông có tiền để trả lại tiền hụi cho bà Ph.

- Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn Bé E trình bày:

Ông Bé E với bà Trần Thị L là vợ chồng, ông thống nhất với trình bày của bà L, ông biết vi c bà L làm chủ hụi và nợ tiền hụi của các hụi viên. Ông Bé E đồng cùng bà L liên đới trả tiền nợ hụi cho bà Ph số tiền là 134.400.000 đồng (Một trăm ba mươi bốn tri u bốn trăm nghìn đồng). Ông đề nghị bà Ph cho thời gian để ông cùng với bà L làm vi c từ từ có tiền trả nợ và đợi bán đất lấy tiền trả nợ.

- Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử sơ thẩm và Thư phiên toà từ khi thụ l cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hi n đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Xác định đúng quan h tranh chấp và đúng tư cách đương sự. Nguyên đơn và bị đơn đã thực hi n đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên toà.

Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu hởi i n của nguyên đơn.

Về án phí đề nghị xử l theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau hi nghiên cứu các tài li u, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào ết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Căn cứ vào yêu cầu hởi i n của nguyên đơn về vi c yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ trả tiền nợ hụi theo biên nhận hụi nên Hội đồng xét xử xác định quan h pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về dân sự - Hợp đồng hụi” theo quy định tại hoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015.

Bị đơn có địa chỉ cư trú tại huy n Lai Vung nên Tòa án nhân dân huy n Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp thụ l giải quyết là phù hợp với quy định tại hoản hoản 1 Điều 35, hoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu hởi i n của bà Huỳnh Hoa Ph đối với bà Trần Thị L, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hợp đồng góp hụi giữa nguyên đơn bà Huỳnh Hoa Ph với bị đơn bà Trần Thị L được giao ết trên cơ sở tự nguy n và bình đẳng, hông bên nào bị lừa dối hoặc bị ép buộc; các bên đều có đủ năng lực pháp luật và năng luật hành vi dân sự phù hợp với Điều 116,117 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên đây là hợp đồng hợp pháp. Sau khi bà Ph đã góp hụi sống các dây hụi do bà L làm chủ nhưng chưa tới thời gian mãn hụi thì bà L đã tuyên bố bể hụi, hông còn hả năng trả tiền nợ hụi mà bà Ph đã góp trước đó. Vì vậy, bà L đã vi phạm hợp đồng mà hai bên đã giao ết, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Ph.

Ngày 11/01/2022, Tòa án nhân dân huy n Lai Vung đã ban hành công văn số 05/CV-TA yêu cầu Công an huy n Lai Vung xác minh, làm rõ hành vi của bà Trần Thị L có dấu hi u phạm tội lạm dụng tín nhi m chiếm đoạt tài sản (thông qua hình thức hụi) theo yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Hoa Ph hay không? Ngày 07/3/2022, Công an huy n Lai Vung đã có công văn số 172/TL-ĐTTH trả lời phúc đáp công văn số 05/CV-TA của Tòa án là hành vi của bà Trần Thị L không có dấu hi u của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Lạm dụng tín nhi m chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, Tòa án nhân dân huy n Lai Vung tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Căn cứ vào giấy ghi xác nhận nợ tiền hụi do bà Trần Thị L tự viết xác nhận còn nợ tiền hụi của bà Ph số tiền là 134.400.000 đồng (Một trăm ba mươi bốn triệu bốn trăm nghìn đồng) có chữ ký tên và ghi họ tên của bà Trần Thị L được nguyên đơn bà Huỳnh Hoa Ph cung cấp và đã được Tòa án công hai chứng cứ sao chụp cho bị đơn Trần Thị L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Văn Bé E. Bà L và ông Bé E thừa nhận đây là giấy xác nhận nợ tiền hụi do bà Trần Thị L tự viết, tên và ghi họ tên. Đây là chứng cứ hông cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bà L và ông Bé E đồng trả cho bà Ph số tiền 134.400.000 đồng nhưng đề nghị bà Ph cho bà L thời gian từ từ để bà L làm vi c có tiền trả nợ cũng như đợi bán được đất lấy tiền trả nợ và đề nghị này hông được bà Ph chấp nhận. Do đó, bà Ph yêu cầu bà Trần Thị L trả lại cho bà Ph số tiền hụi đã đóng là 134.400.000 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định hoản 1 Điều 280 và Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Xét yêu cầu của bà Huỳnh Hoa Ph về vi c yêu cầu buộc trách nhi m liên đới giữa bà Trần Thị L và ông Võ Văn Bé E, Hội đồng xét xử xét thấy: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn Bé E là chồng của bị đơn hông trực tiếp giao dịch góp hụi với nguyên đơn, nhưng ông Bé E biết vi c bà L làm chủ hụi, tham gia góp hụi và tiền hụi dùng để sử dụng nhu cầu thiết yếu của gia đình nên ông Bé E thống nhất với trình bày của bà L và ông Bé E đồng cùng bà L liên đới trả tiền nợ hụi cho bà Ph số tiền là 134.400.000 đồng. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu vợ chồng bà Trần Thị L và ông Võ Văn Bé E chịu trách nhi m liên đới đối với số tiền nợ hụi 134.400.000 đồng là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại hoản 1 Điều 27, hoản 1 Điều 30 Luật Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Bà Ph hông yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử hông xem xét.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bà Trần Thị L và ông Võ Văn Bé E phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là phù hợp với quy định tại hoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Các đương sự được quyền háng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Xét lời phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ và phù hợp pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các hoản 1 Điều 280 và Điều 471, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; hoản 3 Điều 26, hoản 1 Điều 35, hoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; hoản 1 Điều 27, hoản 1 Điều 30 Luật Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; hoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, l phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Hoa Ph.

Buộc bà Trần Thị L và ông Võ Văn Bé E cùng có trách nhi m liên đới trả cho bà Huỳnh Hoa Ph số tiền nợ hụi là 134.400.000 đồng (Một trăm ba mươi bốn triệu bốn trăm nghìn đồng).

2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các hoản tiền phải trả cho người được thi hành án) mà người phải thi hành án chưa thi hành số tiền trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu hoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại hoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành đến hi thi hành án xong.

3. Về án phí, tạm ứng án phí:

- Buộc bà Trần Thị L và ông Võ Văn Bé E cùng có trách nhi m liên đới chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 6.720.000 đồng (Sáu triệu, bảy trăm hai mươi nghìn đồng) (Chưa nộp).

- Bà Huỳnh Hoa Ph hông phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bà Ph được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.360.000 đồng (Ba triệu, ba trăm sáu mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí l phí Tòa án số 0005830 ngày 09/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huy n Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

4. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hi u thi hành án được thực hi n theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Các đương sự được quyền háng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, ể từ ngày tuyên án là ngày 05/5/2022.

Cỡ chữ