vanban.org

Bản án 20/2022/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kim X.

Buộc ông Nguyễn Văn V và bà Trương Lệ T phải có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Kim X số tiền là 4.200.000 đồng (bốn triệu hai trăm ngàn đồng). Kể từ ngày chị Nguyễn Kim X có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Nguyễn Văn V và bà Trương Lệ T chậm thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng ông V, bà T còn phả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyễn Kim X - Nguyễn Văn V, Trương Lệ T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kim X.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2022/DS-ST
Ngày 14 - 02 - 2022
V/v tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Hà

Ông Nguyễn Văn Hiển

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Diễm My là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Ngày 14 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 317/2021/TLST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2021 về việc tranh chấp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2022/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 01 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Kim X, sinh năm 1983; cư trú tại: Ấp XM, xã TAKĐ, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn:

1. Ông Nguyễn Văn V; cư trú tại: Ấp TT A, xã TAKN, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

2. Bà Trương Lệ T; cư trú tại: Ấp TT A, xã TAKN, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau

(vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Mạch Đồng K; cư trú tại: Ấp TT A, xã TAKN, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Nguyễn Kim X trình bày: Trước đây, ông Nguyễn Văn V và bà Trương Lệ T làm chủ hụi và chị có tham gia trong dây hụi 1.000.000đ, mở ngày 17/7/2017 âl, 01 tháng khui 01 lần, dây hụi gồm 31 chưng, chị tham gia 01 chưng, dây hụi hiện nay đã mãn. Chưng hụi này chị đóng đến kỳ thứ 20 thì ông V, bà T đình hụi. Số tiền ông V, bà T nợ chị là 20 kỳ x 1.000.000đ = 20.000.000đ. Sau đó, ông Vg, bà Ty có trả cho chị được 10.300.000đ, còn nợ lại 9.200.000đ.

Năm 2019, chị khởi kiện ông V và bà T tại Tòa án thì ông Mạch Đồng K đồng ý trả nợ thay cho ông V, bà T và yêu cầu chị rút đơn khởi kiện, chị đồng ý. Sau khi rút đơn, ông K trả cho chị được 5.000.000đ, còn 4.200.000đ đến nay không trả. Nay chị yêu cầu ông V, bà T và ông K trả 4.200.000đ.

Đối với ông Nguyễn Văn V, bà Trương Lệ T và ông Mạch Đồng K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng không có ý kiến về nội dung, yêu cầu khởi kiện của chị.

Tại phiên tòa: Chị Xua yêu cầu ông V và bà T trả tiền, chị rút yêu cầu đối với ông K.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Kim X khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn V, bà Trương Lệ T trả tiền hụi là vụ kiện tranh chấp hụi, do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tung: Ông V, bà Ty và ông K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông V, bà T và ông K.

Xét yêu cầu khởi kiện, Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc chị X có tham gia chơi hụi trong dây hụi do ông V, bà T làm chủ hụi và ông V, bà T còn nợ tiền hụi của chị X là thực tế có xãy ra. Đối với ông V, bà T và ông K thì không có ý kiến về nội dung, yêu cầu khởi kiện của chị X, không cung cấp tài liệu, chứng cứ và không có thiện chí phối hợp với Tòa án để giải quyết vụ án.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Ông V và bà T là chủ hụi, còn chị X là hụi viên. Trong quá trình chơi hụi, chị X đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng hụi cho ông V, bà T. Với vai trò là chủ hụi, ông V và bà T là người bảo lãnh cho các hụi viên tham gia. Cho nên, trong quá trình chơi hụi nếu hụi bị bể hay bị hụi viên hốt mà không đóng hụi lại hoặc đình hụi thì ông V, bà T phải chịu trách nhiệm đối với các hụi viên. Như vậy, việc ông V, bà T tự đình hụi nên ông bà phải có trách nhiệm trả tiền hụi lại cho hụi viên. Do đó, yêu cầu khởi kiện của chị X là có căn cứ nên được chấp nhận.

Xét về nghĩa vụ trả tiền, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại phiên tòa, chị X chỉ yêu cầu ông V và bà T phải có nghĩa vụ trả nợ, chị không yêu cầu ông K trả. Xét thấy: Việc rút yêu cầu của chị X là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không trái pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử là phù hợp với khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét về án phí dân sự: Ông V và bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 91; Điều 5; khoản 2 Điều 244; Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 471 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kim X.

1. Buộc ông Nguyễn Văn V và bà Trương Lệ T phải có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Kim X số tiền là 4.200.000 đồng (bốn triệu hai trăm ngàn đồng).

2. Kể từ ngày chị Nguyễn Kim X có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Nguyễn Văn V và bà Trương Lệ T chậm thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng ông V, bà T còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành.

3. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của chị Nguyễn Kim X về việc buộc ông Mạch Đồng K phải có nghĩa vụ trả tiền cho chị.

4. Về án phí dân sự:

4.1. Ông Nguyễn Văn V và bà Trương Lệ T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng.

4.2. Chị Nguyễn Kim X không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho chị X 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0012269 ngày 15 tháng 7 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ