vanban.org

Bản án 20/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 24/01/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc ông Nguyễn T phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền là 7.829.639 đồng (bảy triệu, tám trăm hai mươi chín nghìn, sáu trăm ba mươi chín đồng), trong đó tiền gốc là 2.645.885 đồng và tiền lãi là 5.183.754 đồng tính đến ngày 24/01/2022. Trả một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lự… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "ngân hàng s-nguyễn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2022/DS-ST
Ngày: 24-01-2022
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Từ Thị Minh Tú

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Nguyễn Thị Thu Hằng

- Ông Bùi Hoàng Nguyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng - Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 261/2020/TLST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2021/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 99/2021/QĐST-DS ngày 30/12/2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S

Địa chỉ trụ sở chính: 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường A, Quận S, Thành phố H.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1991 (Giấy ủy quyền số 533/2020/UQ-TTT ngày 23/7/2020) (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn T, sinh năm: 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: 106/11 B1 Hòa Hưng, Phường S, Quận F, Thành phố H

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1/ Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Ngày 31/5/2011, ông Nguyễn T có ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng), sau khi ký hợp đồng Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), với mục đích tiêu dùng cá nhân, với lãi suất 2,15%/ tháng, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn. Sau khi cấp thẻ tín dụng, ông T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 179.568.621 đồng, từ khi kích hoạt thẻ đến nay ông T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 193.944.410 đồng (trong đó thanh toán tiền gốc là 176.922.736 đồng; thanh toán phí và lãi là 17.021.674 đồng). Do ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán của từng kỳ thanh toán nên ngày 26/3/2017 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông T và chuyển toàn bộ số nợ sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 24/01/2022, ông T còn nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền 7.829.639 đồng (trong đó tiền gốc là 2.645.885 đồng và tiền lãi quá hạn là 5.183.754 đồng).

Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông T trả số tiền 7.829.639 đồng (trong đó tiền gốc là 2.645.885 đồng và tiền lãi là 5.183.754 đồng) tính đến ngày 24/01/2022; trả một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Tiền lãi sẽ được tiếp tục tính từ ngày 25/01/2022 theo quy định của hợp đồng đã ký cho đến khi ông T trả hết nợ vay.

Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Bị đơn đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải; quyết định xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông T không nộp tài liệu, chứng cứ cũng như không có văn bản trình bày ý kiến liên quan đến việc giải quyết vụ án vẫn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án tiến hành tố tụng và phiên tòa hôm nay.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng : Thẩm phán và Hội đồng xét xử từ giai đoạn thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay là đã tuân thủ đúng, đầy đủ quy định pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng theo quy định pháp luật nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay và nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

-Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ vào hợp đồng tín dụng hai bên ký kết ngày 31/5/2011 có cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về hợp đồng vay tài sản giữa tổ chức tín dụng với khách hàng theo quy định tại Điều 1 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại Quận 10 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét thấy, Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Về yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 31/5/2011, bản sao kê quá trình trả tiền gốc, lãi của ông T từ ngày 25/7/2011 đến ngày 24/01/2022 cho Ngân hàng có cơ sở xác định ông T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 179.568.621 đồng và ông T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 193.944.410 đồng (trong đó thanh toán tiền gốc là 176.922.736 đồng; thanh toán phí và lãi là 17.021.674 đồng).

Từ sau ngày 25/5/2017 đến nay ông T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng do đó có cơ sở xác định ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ và còn nợ của Ngân hàng số tiền 7.829.639 đồng (trong đó tiền gốc là 2.645.885 đồng và tiền lãi quá hạn là 5.183.754 đồng) tính đến ngày 24/01/2022.

Hai bên thỏa thuận mức lãi suất 2,15%/tháng và lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

Tại mục 23 của bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần S quy định: “Khi sự kiện vi phạm xảy ra thì đơn vị phát hành thẻ có quyền chấm dứt quyền sử dụng thẻ và tiến hành việc thu hồi toàn bộ nợ”. Xét thấy, đến nay đã quá thời hạn thực hiện nghĩa vụ của các đợt thanh toán nhưng bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán của mỗi kỳ trả nợ.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông T thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 7.829.639 đồng (trong đó tiền gốc là 2.645.885 đồng và tiền lãi quá hạn là 5.183.754 đồng) tính đến ngày 24/01/2022; trả một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Tiền lãi sẽ được tiếp tục tính từ ngày 25/01/2022 theo quy định của hợp đồng đã ký cho đến khi ông T trả hết nợ vay là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 227, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ Điều 463, Điều 466 và Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

- Căn cứ Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp hướng dẫn về việc xét xử và thi hành án về tài sản.

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc ông Nguyễn T phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền là 7.829.639 đồng (bảy triệu, tám trăm hai mươi chín nghìn, sáu trăm ba mươi chín đồng), trong đó tiền gốc là 2.645.885 đồng và tiền lãi là 5.183.754 đồng tính đến ngày 24/01/2022. Trả một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Tiền lãi sẽ được tiếp tục tính từ ngày 25/01/2022 cho đến khi ông Nguyễn T trả xong khoản nợ theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 31/5/2011; Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn T phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 391.482 đồng (ba trăm chín mươi mốt nghìn, bốn trăm tám mươi hai đồng).

Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2019/0049582 ngày 07/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

4. Về thời hạn kháng cáo: Ngân hàng Thương mại cổ phần S và ông Nguyễn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ