- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Văn M Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sun…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo PHÙNG VĂN M phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 590 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 20/2021/HS-ST Ngày 29/9/2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
- Với T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Côn. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Nghị và ông Bùi Hồng Đào.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tân Khải Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân
Sơn, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia
phiên tòa: Ông Đinh Xuân Tiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú
Thọ xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2021/TLST- HS ngày 09 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2021/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 9 năm 2021 đối với Bị cáo:
Họ và tên: PHÙNG VĂN M; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 26 tháng 3 năm
1981 (Có mặt)
- Nơi ĐKHKTT: Xóm B, xã mỹ T, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
- Dân tộc: Mường;
Tôn giáo: không;
Quốc tịch: Việt Nam.
- Nghề nghiệp: Lao động tự do;Trình độ học vấn:06/12; Đoàn thể:Quần chúng.
- Bố đẻ: Phùng Văn X, sinh năm: 1950;
- Mẹ đẻ: Đinh Thị Y
, sinh năm: 1955;
Hiện bố, mẹ đều trú tại xã mỹ T, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
- Anh, chị, em ruột: có 04 chị, em (bị cáo là thứ 03).
- Vợ: H Thị H, sinh năm: 1983 (Đã ly thân).
- Con: Phùng Văn H, sinh năm 2003.Hiện ở cùng mẹ đẻ. Hiện vợ, con đang Làm ruộng tại xã mỹ T, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
- Tiền án, tiền sự: không.
- Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật): Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/6/2021 đến 22/6/2021chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Phú Thọ.
- Người bào chữa cho Bị cáo M: Ông Bùi Đức Dũng Trợ giúp viên pháp lý thuộc
Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Thọ (có mặt).
- Người bị hại: + Anh Trần Đức H, sinh năm 1991- Chức danh - Công an xã Địa chỉ: Thị Trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ Nơi công tác: Tại xã mỹ T, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ ( Có mặt). + Anh Đinh văn N, sinh năm 1979 Địa chỉ: Xóm B, xã mỹ T, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ( Vắng mặt )
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1.Anh H Văn T, sinh năm 1980 Địa chỉ: Xóm B, xã mỹ T, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ ( Vắng mặt )
2.Anh H Trọng Đại, sinh năm 1978 Địa chỉ: Xã mỹ T, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ ( Vắng mặt )
3. Chị H Thị H, sinh năm 1983 Địa chỉ: Xóm B, xã mỹ T, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ( Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
1. Về hành vi phạm tội của Bị cáo: Khoảng 08 giờ 40 phút ngày 19/06/2021, PHÙNG VĂN M ở nhà một mình, tự đập phá tài sản, đồ dùng trong nhà. Lúc này anh, chị em ruột của M gồm chị Phùng Thị L – Sinh năm: 1976; anh Phùng Minh C – Sinh năm: 1978 và anh Phùng Văn T - Sinh năm: 1984, đều trú tại xã mỹ T, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đến can ngăn nhưng không được. Đến khoảng 9 giờ cùng ngày, có anh Đinh văn N - Sinh năm: 1979; Nơi cư trú: Xóm B, xã mỹ T, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ (là bạn cùng xóm, thường xuyên đến nhà M chơi) điều khiển xe mô tô BKS: 19K6- 1061 nhãn hiệu SUNTAN màu xanh đến chơi. Khi anh N đang ngồi trên yên xe mô tô ở sân nhà thì bị PHÙNG VĂN M đi từ trong nhà ra, tay phải cầm 01 đoạn gậy gỗ dài khoảng 01m đập 02 phát về phía Đinh văn N, anh N đưa tay trái lên đỡ bị trúng vào cẳng tay trái và một phát trúng vào lưng. Sau đó Đinh văn N dựng xe mô tô ở sân nhà rồi bỏ chạy lên nhà anh Phùng Văn T(em trai ruột của M). PHÙNG VĂN M tiếp tục cầm đoạn gậy gỗ đập vỡ phần ốp nhựa, cụm đèn chiếu sáng, đèn xi nhan, đèn báo phanh sau, cánh yếm xe mô tô của anh N, quá trình đập phá xe mô tô làm đoạn gậy gỗ bị gãy làm 02 đoạn ngắn. Sau đó được người dân điện báo đến UBND xã mỹ T, huyện Tân Sơn. Chủ tịch UBND xã mỹ T, huyện Tân Sơn là ông Hà Văn V - Sinh năm 1977; Nơi cư trú: xã mỹ T, huyện Tân Sơn phân công anh Trần Văn T– Sinh năm 1986; Nơi cư trú: xã Tân Phú, huyện Tân Sơn là Phó trưởng Công an xã mỹ T đến giải quyết vụ việc, anh T đã phân công tổ công tác gồm: Thượng úy Trần Đức H– Sinh năm: 1991; Nơi cư trú: Thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; anh H Văn T – Sinh năm: 1980; Nơi cư trú: xã mỹ T, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ là Công an viên Xóm B, xã mỹ T, huyện Tân Sơn đến giải quyết, đồng thời Chủ tịch UBND xã mỹ T, huyện Tân Sơn tiếp tục phân công anh H Trọng Đ– Sinh năm: 1978; Nơi cư trú: xã mỹ T, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ là Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự xã phối hợp Ban công an xã để giải quyết vụ việc. Khi tổ công tác đến nhà ở của PHÙNG VĂN M thì M đang cầm trên tay trái 01 con dao phay, tay phải cầm 01 con dao phát rừng (dao quắm) đứng ở sân. Anh Trần Đức H đã yêu cầu PHÙNG VĂN M chấm dứt hành vi đập phá tài sản nhưng M không chấp hành, khi đó M hai tay cầm hai con dao tấn công tổ công tác. Anh Trần Đức H đã sử dụng bình xịt hơi cay chuyên dùng cho lực lượng cảnh sát để xịt, PHÙNG VĂN M bỏ chạy vào trong nhà, đồng thời anh H, anh T và anh Đại chạy theo để khống chế PHÙNG VĂN M thì bị PHÙNG VĂN M cầm dao quắm bằng tay phải vung lên, vung xuống làm anh H bị thương tích vùng hàm phải, vùng đỉnh đầu có một khối sưng nề kích thước 3x4cm; Vùng góc mắt bên phải xuống đến má phải kích thước 2cm chảy máu, có vết xây sát da; Vùng má bên trái đến tai trái sưng nề có vết thương kích thước 2cm, xung quang vết thương xây sát da, rớm máu; Vành tai trái có vết thương 3cm chảy máu. Anh H Trọng Đbị thương tích mặt trước mô út gan bàn tay phải vết thương nông, bồ mép sắc gọn, kích thước 1,5x1cm. Trong quá trình vật lộn, bắt giữ, M bị thương tích vùng đỉnh trái có 01 vết rách da, kích thước 4x0,8cm bờ mép gọn; Vùng đỉnh sau bên phải có vết rách da kích thước 2,5x0,8cm, bờ mép gọn; Mặt trong cổ tay phải có vết xây sát da kích thước 2x0,8cm; Phía bên phải đầu gối phải có vết xây sát da, kích thước 6x3cm; Phía trước ngoài cẳng chân phải có vết xây sát da kích thước 2x0,5cm có sưng nề, vết thương này do quá trình bắt giữ M. Sau khi bị khống chế PHÙNG VĂN M đã đưa về Công an huyện Tân Sơn để điều tra làm rõ hành vi phạm tội.
2. Các vấn đề khác:
Ngày 22/6/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tân Sơn ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định khởi tố bị can và Lệnh tạm giam đối với PHÙNG VĂN M về tội “Chống người thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự.
Ngày 30/6/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tân Sơn ra Quyết
định trưng cầu giám định số 61 đối với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Trần Đức H.Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 130/TgT/2021 ngày 05/7/2021 của Trung tâm pháp y – Sở y tế Phú Thọ kết luận: Vết sẹo góc trong dưới mắt bên phải: 03%; Vỡ T trước xoang hàm phải: 09%; Vết sẹo đoạn vùng mặt bên trái: 06%; Vết sẹo đoạn vành tai bên trái: 03%; Chấn động não điều trị ổn định: 04%. Áp dụng phương pháp cộng tại thông tư: 22,73%. Làm tròn: 23%. (Hai mươi ba phần trăm).”
Ngày 30/6/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tân Sơn ra Yêu cầu định giá tài sản số17 đối với chiếc xe mô tô BKS: 19K6 – 1061 của anh Đinh văn N bị hư hỏng. Tại kết luận định giá tài sản số 17/KL-ĐGTS ngày 12/7/2021 của Hội đồng định giá thường xuyên – UBND huyện Tân Sơn kết luận: “Tổng giá trị thiệt hại của 01 xe mô tô nhãn hiệu SUNTAN, BKS: 19K6 – 1061 là 1.620.000đ (Một triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng).”
Ngày 12/7/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tân Sơn ra Quyết định trưng cầu giám định số 66. Tại kết luận giám định pháp y tâm thần số 97/KLGĐ ngày 02/8/2021 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc – Bộ y tế kết luận:
“ - PHÙNG VĂN M, sinh năm 1981, trú tại Xóm B, xã mỹ T, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ bị bệnh Rối loạn loạn thần do rượu - F10.5 (Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 về các rối loạn tâm thần và hành vi).
- Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 19/6/2021 PHÙNG VĂN M bị
bệnh Rối loạn loạn thần do rượu do hoang tưởng và ảo giác chi phối, mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi.
- Hiện tại PHÙNG VĂN M bị bệnh Rối loạn loạn thần do rượu giai đoạn khỏi
bệnh, đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.”
Xét thấy hành vi của PHÙNG VĂN M phạm tội Chống người thi hành công vụ,
quá trình điều tra ngày 09/8/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tân Sơn ra Quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự số 02; Quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can số 02 đối với PHÙNG VĂN M từ tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự sang tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự;
3. Về trích dẫn Cáo trạng của Viện kiểm sát: Tại Bản cáo trạng số: 18/CT- VKS - TS ngày 08/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đã truy tố Bị cáo PHÙNG VĂN M: về tội “ Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn thực
hành quyền công tố nhà nước, tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo PHÙNG VĂN M phạm tội "Cố ý gây thương tích".
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1
Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo PHÙNG VĂN M từ 30 (Ba mươi ) đến 36 ( Ba mươi sáu) tháng
tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 19/6/2021.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 bộ luật hình sự và khoản 1 Điều
584,585, 586,589, 590 của Bộ luật dân sự.
+ Buộc Bị cáo PHÙNG VĂN M phải bồi thường về tiền viện phí, các khoản chi
phí cứu chữa, điều trị và tổn hại phần trăm sức khỏe cho anh Trần Đức Hvới tổng số tiền là 10.000.000đ ( Mười triệu đồng).
+ Buộc bị cáo PHÙNG VĂN M phải bồi thường cho anh Đinh văn N số tiền
1.620.000đ thiệt hại do bị cáo đập phá chiếc xe mô tô của anh N theo biên bản định giá của Hội đồng định giá thường xuyên UBND huyện Tân Sơn.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự;
khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao dài 44,5cm, phần lưỡi dao bằng sắt dài
31,7cm, phần tay nắm bằng nhựa dài 12,8 cm; 01 (một) con dao loại phát dài 95,5cm, phần lưỡi bằng sắt dài 47cm, phần tay nắm bằng gỗ dài 48,5cm; 01 (một) đoạn gậy gỗ kích thước 80cm x 4cm; 01 (một) đoạn gậy gỗ kích thước: 46cm x 4cm.
Trả lại cho PHÙNG VĂN M 01 (một) đôi dép cao su, màu đen, dép cũ đã qua sử
dụng và 01 (một) mũ dạng mũ cối, màu xanh, mũ cũ đã qua sử dụng.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm
a khoản 1 Điều 23; Điều 26 và Danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự và 581.000đ (Năm trăm tám mươi mốt nghìn đồng) án phí dân sự trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.
7. Người bào chữa cho Bị cáo M: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, áp dụng các
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Bị cáo như Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa và cho Bị cáo hình phạt ở mức thấp theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
8. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình
phạt cho Bị cáo ở mức thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Sơn, tỉnh Phú
Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng và Quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can số 02 đối với PHÙNG VĂN M từ tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự sang tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự; Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Những chứng cứ xác định có tội.
Tại phiên tòa hôm nay, Bị cáo PHÙNG VĂN M đã khai nhận toàn bộ hành vi
phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; thừa nhận bản Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn là đúng tội, không oan sai. Lời khai của Bị cáo thống nhất, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và vật chứng thu được cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ của vụ án.
Như vậy đã xác định được: Hồi 09 giờ ngày 19/06/2021 PHÙNG VĂN M - Sinh
năm:1981; Nơi cư trú: Xóm B, xã mỹ T, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đã có hành vi cầm dao cố ý gây thương tích cho anh Trần Đức H– Sinh năm: 1991; Hậu quả: Gây tổn thương cơ thể của anh Trần Đức H23% sức khỏe.
Từ các nhận định trên đã đủ cơ sở xác định hành vi của Bị cáo M thỏa mãn các yếu
tố cấu T tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự quy định.
Điểm đ. Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác mà tỉ lệ tổn
thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trừng hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”
Khoản 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02
năm đến 06 năm:
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết
tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:
- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Về tính chất vụ án là
nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo PHÙNG VĂN M cố ý gây thương tích cho người khác là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm và làm tổn hại đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, cần phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
- Về nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo: Là bị cáo PHÙNG
VĂN M do bức xúc trong cuộc sống hàng ngày, nên đã thực hiện hành vi phạm tội cố ý gây thương tích cho người khác.
- Xét về nhân thân Bị cáo:Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự gì. Trước và Tại thời
điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 19/6/2021 PHÙNG VĂN M bị bệnh Rối loạn, loạn thần do rượu, do hoang tưởng và ảo giác chi phối, mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo được quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa
hôm nay, Bị cáo đều T khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, bị cáo mong muốn được sửa lỗi lầm của mình đã gây ra, bố đẻ là ông Phùng Văn X được tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất và Danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo PHÙNG VĂN M được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,
không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; trước khi phạm tội lần này Bị cáo đã phải đi điều trị về bệnh Rối loạn, loạn thần do rượu, do hoang tưởng và ảo giác chi phối, mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi. Tuy nhiên, Bị cáo không lấy đó làm bài học khi khỏi bệnh lại tiếp tục uống rượu, thể hiện sự coi thường chính tính mạng bản thân mình, coi thường pháp luật, không chịu răn đe, sửa đổi mình. Vì vậy, cần cách ly Bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để Bị cáo tu dưỡng trở T người có ích cho bản thân, gia đình, và xã hội và phạt Bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt mà điều luật quy định và ở mức thấp theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
Đối với hành vi của Bị cáo PHÙNG VĂN M dùng gậy đập phá xe mô tô BKS:
19K6- 1061 của anh Đinh văn N nhưng trị giá thiệt hại tài sản là 1.620.000 đồng chưa đủ yêu tố cấu T tội hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, ngày 16/8/2021, Công an huyện Tân Sơn đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Bị cáo M về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác quy định tại điểm a khoản 2 Điều 15 Nghị định số: 167/2013/NĐ- CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội với mức phạt tiền: 2.000.000 đồng là phù hợp.
Đối với thương tích của anh H Trọng Đ và anh Đinh văn N do bị thương tích
nhẹ, anh Đại và anh N có đơn từ chối giám định và không yêu cầu Bị cáo PHÙNG VĂN M phải bồi thường gì về mặt dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.
Đối với việc bị cáo đập phá nhà cửa và các đồ dung sinh hoạt không gây thiệt hại
lớn và chị H Thị H là ( vợ bị cáo) không có yêu cầu gì, nên Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Sơn không đề cập xử lý là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự:
Tại phiên tòa hôm nay bị hại anh Trần Đức Hcùng Bị cáo PHÙNG VĂN M thỏa
thuận với nhau về việc bồi thường thiệt hại về sức khỏe bao gồm: chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe cho anh Trần Đức Htổng số tiền là 10.000.000đ ( Mười triệu đồng) cần được chấp nhận.
- Đối với việc bị cáo đập phá chiếc xe mô tô của anh N. Anh N yêu cầu bị cáo
PHÙNG VĂN M phải bồi thường cho anh số tiền 1.620.000đ theo biên bản định giá của Hội đồng định giá thường xuyên UBND huyện Tân Sơn ( Tại bút lục 72) là phù hợp.
- Đối với chiếc xe mô tô BKS: 19K6-1061, nhãn hiệu: SUNTAN của anh Đinh
văn N ngày 13/8/2021, anh N có đơn xin lại chiếc xe mô tô, Cơ quan Cảnh sát điều tra
- Công an huyện Tân Sơn đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô nêu trên cho anh N là chủ sở hữu hợp pháp xét thấy là phù hợp.
. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự;
khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao dài 44,5cm, phần lưỡi dao bằng sắt dài
31,7cm, phần tay nắm bằng nhựa dài 12,8 cm; 01 (một) con dao loại phát dài 95,5cm, phần lưỡi bằng sắt dài 47cm, phần tay nắm bằng gỗ dài 48,5cm; 01 (một) đoạn gậy gỗ kích thước 80cm x 4cm; 01 (một) đoạn gậy gỗ kích thước: 46cm x 4cm; 01 (một) đôi dép cao su, màu đen, dép cũ đã qua sử dụng và 01 (một) mũ dạng mũ cối, màu xanh, mũ cũ đã qua sử dụng là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong vụ
án hình sự theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của Kiểm sát viên, Người bào chữa tại phiên tòa là phù hợp, nên Hội
đồng xét xử chấp nhận.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên
quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ kết tội:
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1
Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo PHÙNG VĂN M phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Trách nhiệm hình sự, hình phạt
- Xử phạt Bị cáo PHÙNG VĂN M 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ
ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 19/6/2021;
3. Về trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự:
Áp dụng khoản 2 Điều 48 của Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 590 của Bộ luật dân
sự: Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo PHÙNG VĂN M với anh Trần Đức H. Bị cáo M phải bồi thường toàn bộ thiệt hại về sức khỏe cho anh H gồm các thiệt hại sau: chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe với tổng số tiền là 10.000.000đ ( Mười triệu đồng).
Áp dụng khoản 1 Điều 584, 586, 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo PHÙNG VĂN
M phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho anh Đinh văn N số tiền 1.620.000đ.
Khi án có hiệu lực pháp luật, bị cáo M chậm trả tiền cho anh Trần Đức Hvà anh
Đinh văn N, mà anh H và anh N có đơn yêu cầu thi hành án thì bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của bộ luật dân sự năm 2015.
4.Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, Điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao dài 44,5cm, phần lưỡi dao bằng sắt dài
31,7cm, phần tay nắm bằng nhựa dài 12,8 cm; 01 (một) con dao loại phát dài 95,5cm, phần lưỡi bằng sắt dài 47cm, phần tay nắm bằng gỗ dài 48,5cm; 01 (một) đoạn gậy gỗ kích thước 80cm x 4cm; 01 (một) đoạn gậy gỗ kích thước: 46cm x 4cm;
Trả lại cho PHÙNG VĂN M 01 (một) đôi dép cao su, màu đen, dép cũ đã qua sử
dụng và 01 (một) mũ dạng mũ cối, màu xanh, mũ cũ đã qua sử dụng.
Vật chứng đã được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Sơn bàn giao
cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Sơn ngày 10/9/2021.
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 và Danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Buộc Bị cáo PHÙNG VĂN M phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án
phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong vụ án hình sự là 581.000đ. Tổng số bị cáo phải nộp là: 781.000đ ( Bảy trăm tám mươi mốt nghìn đồng)
6. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại (anh
H) có mặt được quyền kháng cáo, Bị hại anh N người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú thọ xét xử phúc thẩm.
7. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện, tỉnh; - Sở Tư pháp tỉnh - CQ CSĐT Công an huyện; - CQ THA dân sự huyện; - UBND nơi các b/c thường trú; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Văn Côn |