vanban.org

Bản án 20/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 07/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật: Áp dụng điểm 0, khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 331, điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hình phạt: Xử phạt Nguyễn Văn N 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 22/02/2021. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a , c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, khoản 2 khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Nhiệm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật: Áp dụng điểm 0, khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 331, điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2021/HS-ST
Ngày: 07/5/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Vân Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Ngọc Thắng.

2. Ông Lục Viết Sang.

Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tham gia phiên tòa - Ông Nông Văn Hội - Kiểm sát viên.

Ngày 07/5/2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2021/TLST-HS ngày 02-4-2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2021/QĐXXST-HS, ngày 23/4/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn N, sinh năm 1965; Tên gọi khác: Không;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản X, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 7/10;

Con ông: Nguyễn Xuân Ph (đã chết); con bà: Lê Thị Th (đã chết) ; Vợ Bùi Thị H: Con. có 3 con, lớn sinh năm 1986, nhỏ sinh năm 1993;

Tiền án: Tại bản án số 14/2016/HSST, ngày 02/6/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thế xử 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/01/2018;

- Tại bản án số 15/2018/HSST, ngày 26/6/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thế xử 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/11/2019;

Tiền sự: Không có.

- Nhân thân: Ngày 11/11/2008 bị Chủ tịch UBND huyện Yên Thế ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh thời gian 24 tháng vì lý do nghiện ma túy; Ngày 05/12/2012 bị Chủ tịch UBND huyện Yên Thế ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh thời gian 12 tháng vì lý do nghiện ma túy.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/02/2021 hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang.(có mặt tại phiên tòa.)

* Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1961 (vắng mặt)

Địa chỉ: Bản L, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

2. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985 ( vắng mặt)

Địa chỉ: Bản X, xã X, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án diễn biến tại phiên tòa thì vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 14/02/2021 tại bản X, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, Tổ công tác của Công an xã X tiến hành tuần tra, phát hiện Nguyễn Văn N, sinh năm 1965, ở bản X, xã X đi bộ một mình có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy nên tổ công tác đã đưa N về trụ sở Công an xã X để tiến hành kiểm tra. Tại trụ sở Công an xã X, Nguyễn Văn N trình bầy đang tàng trữ ma túy để sử dụng đồng thời lấy ra từ túi quần phía trước bên phải của N đang mặc một ví da mầu đen bên trong có 01 gói giấy bạc cả hai mặt màu trắng bạc bên trong đựng chất cục bột màu trắng (N khai là chất ma túy) và 300.000đ; N tiếp tục lấy ra từ túi áo ngực bên trong áo khoác phía bên trái của N đang mặc 01 xi lanh nhựa loại 03ml/cc giao nộp cho Công an. Công an xã X đã tiến hành lập biên bản tạm giữ toàn bộ số đồ vật, tài sản mà Nguyễn Văn N giao nộp, đồng thời thông báo cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đến làm việc. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành niêm phong 01 (một) gói giấy bạc cả hai mặt màu trắng bạc bên trong đựng chất cục bột màu trắng Nguyễn Văn N giao nộp trong phong bì ký hiệu “QT” để phục vụ công tác điều tra và giám định.

Ngày 15/02/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trưng cầu giám định để giám định đối với số mẫu vật Nguyễn Văn N giao nộp.

Tại kết luận giám định số 288/KL-KTHS ngày 17/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: Trong phong bì ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 gói giấy bạc có cả hai mặt màu trắng bạc là ma túy, có khối lượng 0,103 gam, loại Heroine. Ngày 22/02/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thế Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can để điều tra đối với Nguyễn Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chát ma túy”

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn N khai nhận: Bản thân N là đối tượng nghiện ma túy nhiều năm. Vào tối 13/02/2021 N đi xuống nhà chị Bùi Thị H sinh năm 1973 ở bản M, xã T chơi sau đó N mượn chị H chiếc xe mô tô nhãn hiệu Hon đa AIRBLADE, biển kiểm soát 98C-08987 một mình xuống khu vực thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang để tìm mua ma túy, khi N đi đến khu vực tổ dân phố T, thị trấn N, huyện Tân Yên N gặp một người đàn ông không quen biết khoảng 30 tuổi đội mũ bảo hiểm, đeo khẩu trang đang ngồi trên xe mô tô ở ven đường. Thấy vậy, N đã đến nói chuyện. Qua nói chuyện N biết người đàn ông này có ma túy bán nên N đã hỏi mua của người đàn ông đó 200.000đồng tiền ma túy, thì được người đàn ông này đồng ý bán. Sau khi đưa tiền N được người đàn ông đó đưa cho một gói giấy bạc, N cầm và biết đó là gói ma túy rồi đi ra khu vực Ba Mô, thuộc tổ dân phố T, thị trấn N để sử dụng ma túy. Tại đây N lấy một phần ma túy trong gói giấy bạc ra và sử dụng bằng hình thức chích, số ma túy còn lại N gói lại và cất vào ví da của N, đồng thời cất chiếc xi lanh vừa dùng vào túi áo mục đích để sử dụng ma túy tiếp. Sau đó N điều khiển xe mô tô về trả chị H rồi đi về nhà ngủ. Đến khoảng 05 giờ ngày 14/02/2021 N dậy bỏ ma túy ra để sử dụng tại nhà. N lấy một phần ma túy trong gói giấy bạc ra sử dụng bằng hình thức chích, số ma túy còn lại N gói trong gói giấy bạc ban đầu rồi cất vào trong ví da rồi đút vào túi quần phía trước bên phải của N đang mặc. Sau khi sử dụng ma túy xong N rửa sạch chiếc xi lanh vừa sử dụng bằng nước sôi rồi cất chiếc xi lanh vào trong túi áo ngực phía trong bên trái của mình rồi luôn đem theo bên mình số ma túy và xi lanh để tiện cho việc sử dụng. Đến tối cùng ngày N đang đi chơi trên đường thuộc bản X, xã X thì bị Công an xã X đến yêu cầu kiểm tra thu giữ vật chứng như trên. Cùng ngày cơ quan điều tra tiến hành lấy mẫu (nước tiểu) xét ng chất ma túy đối với Nguyễn Văn N. Kết quả N dương tính với chất ma túy Heroine.

Cơ quan điều tra đã cho N thực ng điều tra hành vi mua ma túy, sử dụng ma túy, cất dấu ma túy. N thực hiện thành thục các động tác.

Tại cơ quan điều tra bị cáo N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại cáo Trạng số:18/CT-VKS-YT, ngày 31/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm 0, khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, sau phần xét hỏi tại phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách n hình sự, giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý’’. Áp dụng điểm 0, khoản 2, Điều 249, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự, Xử phạt Nguyễn Văn N từ 5 năm 6 tháng đến 6 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22- 02 -2021.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm, thu nhập không có nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong chất ma túy có ký hiệu “QT” có dấu niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bắc Giang và chữ ký cùng tên của giám định viên, dấu niêm phong của Công an xã X và chữ ký cùng tên của thành phần tham gia; Đây là vật chứng do nhà nước quản lý và cấm lưu hành; 01 xi lanh nhựa loại 3ml/cc; là vật chứng không có giá trị cần tịch thu tiêu huỷ.

- Số tiền 300.000đồng và 1 ví da là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả cho bị cáo.

Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 bộ luật tiis tụng hình sự, Điểm a, khoản 2, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH114, ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. bị cáo N phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo N không tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo,

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1.Về Tố tụng]:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Yên Thế, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2.Về tội danh]:

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Văn N thừa nhận tối ngày 13/02/2021, N đi xuống nhà chị H ở bản M, xã T mượn xe mô tô BKS 98C-08987 đi xuông khu vực thị trấn N, T mục đích mua ma túy về sử dụng, khi N đi đến tổ dân phố T, thị trấn N, N đã gặp và mua ma túy của một người đàn ông khoảng 30 tuổi, đứng ở rìa đường, N không biết tên. địa chỉ người đó. N có đưa cho người đàn ông đó 200.000đ thì được người đàn ông đưa cho N một gói giấy bạc, cả 2 mặt màu trắng bạc. N cầm và biết đó là ma túy, rồi đi ra khu vực Ba Mô, thuộc tổ dân phố T, thị trấn N sử dụng một phần bằng hình thức chích. Sau đó N điều khiển xe mô tô về trả chị H, khoảng 5 giờ ngày 14/02/2021 N bỏ số ma túy ra để sử dụng tại nhà một phần; Số ma túy còn lại N cất vào trong ví da luôn đem theo bên người đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 14/02/2021, khi N đang đi trên đường thuộc bản X, xã X thì N bị tổ công tác của Công an xã X kiểm tra phát hiện và bắt giữ và thu giữ vật chứng như trên.

Tại kết luận giám định số 288/KL-KTHS ngày 17/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: Trong phong bì ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 gói giấy bạc có cả hai mặt màu trắng bạc là ma túy, có khối lượng 0,103 gam, loại Heroine.

Lời khai của bị cáo N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tang vật chứng đã thu giữ được, phù hợp với bản kết luận giám định của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án; phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm. Điều đó có đủ cơ sở chắc chắn khẳng định Cáo trạng số 18/CT-VKS-YT, ngày 31-3-2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm 0, khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động tàng trữ trái phép chất ma túy xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song bị cáo vẫn cố tình thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, do đó cần phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 BLHS.

Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách n hình sự Hội đồng xét xử xét thấy. Bị cáo có nhân thân xấu ngày 11/11/2008 bị chủ tịch UBND huyện Yên Thế ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chưa bệnh vì lý do nghiện ma túy; ngày 05/12/2012 bị Chủ tịch UBND huyện Yên Thế ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh vì lý do nghiện ma túy. Bị cáo có 02 tiền án Ngày 02/6/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thế xử 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Ngày 26/6/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thế xử phạt 1 năm 8 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” , ngày 10/11/2019 mới chấp hành xong hình phạt tù. Lần phạm tội này bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy đã nhiều lần bị đưa đi chữa bệnh bắt buộc và nhiều lần bị đưa ra xét xử nhưng bị cáo không có ý thực từ bỏ ma túy mà vẫn mua ma túy để sử dụng và hiện nay tệ nạn ma túy đang là vấn đề nhức nhối cho toàn xã hội, nhất là trên địa bàn huyện Yên Thế các đối tượng tàng trữ, sử dụng ma túy ngày một gia tăng, việc sử dụng ma túy không những ảnh hưởng tới sức khỏe của bản thân mà còn lây lan các bệnh truyền nhiễm tới người khác. Do tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội nên cần thiết cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung bằng tiền: Bị cáo là đối tượng nghiện, công ăn việc làm không có, thu nhập không có nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về tiền án phí bị cáo phải chịu tiền án phí theo quy định.

Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong chất ma túy có ký hiệu “QT” có dấu niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bắc Giang và chữ ký cùng tên của giám định viên, dấu niêm phong của Công an xã Xuân Lương và chữ ký cùng tên của thành phần tham gia bên trong đựng Ma túy heroin còn lại sau giám định, chất ma túy là vật do nhà nước quản lý và cấm lưu hành; 01 xi lanh nhựa, đây là vật không có giá trị; Áp dụng điểm a, khoản 2, điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ.

Đối với số tiền 300.000đ. 01 ví da màu đen là tài sản cá nhân bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả bị cáo.

Đối với chị H cho N mượn xe mô tô biển kiểm soát 98C-08987, chị H không biết N mượn đi mua ma túy Công an huyện Yên Thế không xử lý với chị H là có căn cứ và đúng luật.

Đối với người bán ma túy cho N do N không biết tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để xác minh.

Hành vi N sử dụng ma túy ngày 13/02/2021 tại khu vực Ba Mô thuộc tổ dân phố T, thị trấn N, T, ngày 04/3/2021 Công an huyện Yên Thế đã có công văn trao đổi với Công an huyện T xem xét ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 14/02/2021 tại nhà thuộc bản X, xã X của Nguyễn Văn N, ngày 14/3/2021 Công an huyện Yên Thế đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N theo quy định tại khoản 1, điều 21, nghị định 167/2013/NĐ-CP; Hội đồng xét xử thấy đúng luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật: Áp dụng điểm 0, khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 331, điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

2.Về hình phạt: Xử phạt Nguyễn Văn N 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 22/02/2021.

3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a , c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, khoản 2 khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong chất ma túy có ký hiệu “QT” có dấu niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bắc Giang và chữ ký cùng tên của giám định viên, dấu niêm phong của Công an xã Xuân lương và chữ ký cùng tên của thành phần tham gia; 01 xi lanh nhựa loại 3ml/cc;

Trả lại bị cáo N 01 ví da màu đen và 300.000đ nhưng tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136, điểm a, khoản 2, điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH114, ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ