vanban.org

Bản án 20/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 03/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tu ên bố bị cáo Di p Văn H và Ngu ễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Ngu ễn Văn B: 03 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ 20/6/2021. Di p Văn H: 03(ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ 20/6/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tu ên bố bị cáo Di p Văn H và Ngu ễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHƯỚC SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NAM
Bản án số: 20/2021/HS-ST
Ngày 03 - 11 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Đình Hương

Ông Lê Văn Thực

- Thư ký phiên tòa: Ông Zơ Râm Quốc Sinh- Thư T a án nhân dân hu n Phư c Sơn, t nh Quảng Nam.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Ngu ễn Trường Giang- Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở T a án nhân dân hu n Phư c Sơn, t nh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công hai vụ án hình sự thụ L số: 22/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2021 theo Qu ết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2021/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 10 năm 2021 đối v i các bị cáo:

1. Diệp Văn H; sinh ngà 08 tháng 6 năm 1993; tại: huy n Đ, t nh T; Quê quán: Xóm C, xã T, huy n Đ, t nh T; Nơi cư trú: hông ổn định; nghề nghi p: không ổn định; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Sán Dìu; gi i tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Vi t Nam; con ông: Di p Văn H1 (SN: 1974) và bà Hoàng Thị N (SN: 1975); có vợ: Sên Thị C (SN: 1993, đã l hôn) và 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 26/02/2020 bị Công an thị trấn Khâm Đức huy n Phư c Sơn xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; bị bắt tạm giữ ngày 20/6/2021, tạm giam ngày 26/6/2021, hi n đang bị tạm giam, có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Văn B; sinh ngà 14 tháng 4 năm 1990; tại: huy n Đ, t nh T; Quê quán: Xóm C, xã T, huy n Đ, t nh T; Nơi cư trú: hông ổn định; nghề nghi p: không ổn định; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc Sán Dìu; gi i tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Vi t Nam; con ông: Nguyễn Văn S (SN: 1967) và bà Trần Thị C1 (SN: 1968); tiền án: Ngày 26/6/2020, bị Tòa án huy n Phư c Sơn xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 10/8/2020; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 26/02/2020 bị Công an thị trấn Khâm Đức huy n Phư c Sơn xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; bị bắt tạm giữ ngày 20/6/2021, tạm giam ngày 26/6/2021, hi n đang bị tạm giam, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

Hoàng Thị Thanh T, sinh năm: 1986; Nơi cư trú: thôn 5, xã H, hu n P, t nh Q, vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Lê Trung Ch, sinh năm: 2001; Nơi cư trú: thôn 4, xã xã H, hu n P, t nh Q, có mặt tại phiên t a.

Lê Văn L, sinh năm: 1974; Nơi cư trú: thôn 4, xã xã H, hu n P, t nh Q, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 19/6/2021, Di p Văn H và Nguyễn Văn B, cùng trú tại xóm C, xã T, huy n Đ, t nh T bắt xe khách từ t nh T vào xã Phư c Hi p, huy n Phư c Sơn, t nh Quảng Nam để làm vàng. Đến khoảng 08 giờ sáng ngày 20/6/2021, cả hai đến nhà ông Lê Văn L (thôn 4, Phư c Hi p, Phư c Sơn, Quảng Nam) để chơi (vì cả hai có quen biết từ trư c). Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, B và H hỏi mượn xe mô tô nhãn hi u Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát 92K4 - 2875 của ông Lê Văn L và được anh Lê Trung Ch (là con ruột của ông L) đồng để đi xuống huy n Hi p Đức tìm người quen mượn máy móc, dụng cụ làm vàng. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn B điều khiển xe mô tô nhãn hi u Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát 92K4 - 2875 chở Di p Văn H về lại xã Phư c Hi p, khi chạ đến đoạn đường trư c nhà bà Hoàng Thị Thanh T thôn 5, xã Phư c Hi p, huy n Phư c Sơn, t nh Quảng Nam. Di p Văn H ngồi phía sau phát hi n trong sân nhà bà T có 01 chiếc xe mô tô Yamaha Sirius màu vàng đen, hông gắn biển kiểm soát, hông có người trông giữ, trên xe có cắm sẵn chìa khóa. Thấy vậy H nả sinh định chiếm đoạt chiếc xe này và nói v i B “Quay lại xem có lấy được xe này không” B trả lời “Xem lấy được thì lấy” và điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 92K4 - 2875 quay lại đến vị trí cách nhà bà T 20m để xem xét tình hình. H bàn bạc v i B “Anh ngồi đây, em lên lấy xe được không” B trả lời lại “Xem thử lấy được không, không được thì tùy” H nói tiếp “Em lên lấy xe, Anh ngồi đây canh chừng cho em” và B đồng ý. Vừa nói xong, Di p Văn H đi bộ về phía ngôi nhà bà T, đi vào trong sân nhà lén lút dắt xe mô tô Yamaha Sirius màu vàng đen, hông gắn biển kiểm soát ra khỏi nhà rồi nổ má , điều khiển xe chạy về hư ng Khâm Đức, huy n Phư c Sơn, B điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 92K4- 2875 chạy theo sau. Khi H vào dắt trộm xe và điều khiển xe chạ đi thì bà Hoàng Thị Thanh T đang ngh trưa ở trong nhà và có nhìn thấ đã chạy ra truy hô và cùng chồng đuổi theo, đồng thời gọi báo Công an xã Phư c Hi p biết sự vi c. Khi Di p Văn H điều khiển xe máy chiếm đoạt được chạ đến đoạn đường thuộc thôn 1, xã Phư c Hòa, huy n Phư c Sơn thì bị Lực lượng Công an xã Phư c Hòa phối hợp Công an xã Phư c Hi p cùng vợ chồng bà T đuổi kịp, bắt được và đưa H về Công an xã Phư c Hòa làm vi c. Tại đâ , Di p Văn H đã hai nhận hành vi trộm cắp xe mô tô Yamaha Sirius màu vàng đen, hông gắn biển kiểm soát, Công an xã Phư c Hi p đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối v i Di p Văn H và thu giữ tang vật là xe mô tô Yamaha Sirius màu vàng đen, hông gắn biển kiểm soát.

Đối v i Nguyễn Văn B, sau khi cùng H trộm cắp xe mô tô xong thì B điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 92K4 - 2875 chạy theo sau Di p Văn H, B thấy có nhiều người đuổi theo H nên quay xe về lại xã Phư c Hi p trả xe mô tô biển kiểm soát 92K4 - 2875 cho anh Ch. Đến chiều cùng ngày, B bị Công an huy n Phư c Sơn mời về làm vi c.

Tại cơ quan điều tra, Di p Văn H và Nguyễn Văn B đã hai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp xe mô tô Yamaha Sirius màu vàng đen, hông gắn biển kiểm soát nêu trên.

Tại kết luận định giá tài sản số: 09/KL - ĐG ngà 23/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huy n Phư c Sơn ết luận 01 xe mô tô nhãn hi u Yamaha Sirius màu vàng đen, hông gắn biển kiểm soát, số máy 5C64-1043740; số hung RLCS5C641DY043733, đã qua sử dụng, có giá 6.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Phư c Sơn xác định xe mô tô nhãn hi u Yamaha Sirius màu vàng đen, hông gắn biển kiểm soát mà bà Hoàng Thị Thanh T đang sử dụng là của anh Trần Hữu T1, sinh ngày 01/01/1986, trú tại: xã G, huy n L, t nh Q có biển kiểm soát 74B1- 072.35 bị mất năm 2015 tại quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng nhưng hông trình báo sự vi c. Hi n nay anh T1 đang đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, hông làm vi c được v i cơ quan chức năng. Bà Hoàng Thị Thanh T khai nhận mua của một người đàn ông hông rõ lai lịch vào năm 2015 v i giá 4.000.000 đồng để đi rừng. Lúc mua, bà Hoàng Thị Thanh T không biết đâ là tài sản trộm cắp. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Phư c Sơn t nh Quảng Nam đã chu ển thông tin tội phạm đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Gio Linh, t nh Quảng Trị thông báo cho chủ sở hữu để giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số: 20/CT-VKSPS-HS ngày 29 tháng 9 năm 2021 Vi n iểm sát nhân dân hu n Phư c Sơn, t nh Quảng Nam đã tru tố bị cáo Di p Văn H và Ngu ễn Văn B tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a hoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên t a đại di n Vi n iểm sát vẫn giữ ngu ên qu ết định tru tố đối v i các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Di p Văn H và Nguyễn Văn B đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo là người dân tộc thiểu số. Đối v i bị cáo Nguyễn Văn B áp dụng thêm tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự “Tái phạm”. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm a hoản 2 Điều 173; điểm h hoản 1 Điều 52; điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ngu ễn Văn B từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Áp dụng điểm a hoản 2 Điều 173; điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Di p Văn H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Không đề nghị xử phạt bổ sung vì các bị cáo có hoàn cảnh inh tế hó hăn.

Về phần dân sự: Bà Hoàng Thị Thanh T yêu cầu trả xe lại cho chủ sở hữu hợp pháp và không yêu cầu gì đối v i vi c bồi thường dân sự.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho ông Lê Văn L 01 xe mô tô nhãn hi u Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát 92K4 - 2875, do khi B và H mượn xe đi để làm phương ti n trộm cắp tài sản ông L không biết.

Đối v i xe 01 xe mô tô nhãn hi u Yamaha Sirius màu vàng đen, hông gắn biển kiểm soát, hi n đang B quản tại Kho vật chứng Công an huy n Phư c Sơn của anh Trần Hữu T1; trú tại: xã G, huy n L, t nh Q. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Phư c Sơn t nh Quảng Nam đã chu ển thông tin tội phạm đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Gio Linh, t nh Quảng Trị thông báo cho chủ sở hữu để giải quyết theo qu định pháp luật.

Các bị cáo đồng luận tội của Vi n iểm sát và xin giảm nhẹ hình phạt.

Người có qu ền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng v i luận tội của Vi n iểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huy n Phư c Sơn, t nh Quảng Nam, Điều tra viên, Vi n kiểm sát nhân dân huy n Phư c Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qu định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp v i qu định của pháp luật; các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, qu ết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.

Tại phiên t a, bị cáo Di p Văn H và Ngu ễn Văn B hai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời hai của các bị cáo phù hợp v i lời hai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản hám nghi m hi n trường và phù hợp v i các tài li u, chứng cứ hác có trong hồ sơ vụ án, thể hi n: Khoảng 13 giờ 00 phút ngà 20/6/2021, tại thôn 5, xã Phư c Hi p, Ngu ễn Văn B đã đứng bên ngoài canh ph ng cho Di p Văn H vào trong sân nhà bà T dắt trộm của Hoàng Thị Thanh T 01 xe mô tô nhãn hi u Yamaha Sirius màu vàng đen, hông gắn biển kiểm soát, có giá 6.000.000 đồng.

Tại phiên t a anh Lê Trung Ch khai: ngày 20/6/2021, B và H đến nhà Ch và sau đó hỏi mượn xe, nên Ch đã cho H và B mượn xe mô tô nhãn hi u Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát 92K4 - 2875 (xe này là của ông Lê Văn L là bố của Ch). Ch không biết B và H mượn xe để làm phương ti n đi trộm cắp tài sản.

Như vậ , trên cơ sở lời khai của các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo qui định tại điểm a hoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng Vi n iểm sát nhân dân hu n Phư c Sơn, t nh Quảng Nam tru tố là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấ : Bị cáo Di p Văn H và Ngu ễn Văn B biết trộm cắp tài sản của người hác là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn có tiền để mua ma tú sử dụng, lợi dụng sự sơ hở của bà T để xe ở trư c hiên nhà cắm chìa khóa trên xe và hông có người trông giữ, H đã nả sinh định trộm cắp và bàn v i B và được B đồng . Các bị cáo đã có sự bàn bạc, phân công nhi m vụ cụ thể cho nhau nên phạm tội đồng phạm có tổ chức. Xét về vai tr của từng bị cáo thì bị cáo H vừa là người khởi xư ng, vừa là người thực hi n vi c trộm xe má . Mặc hác, H có nhân thân hông tốt đã bị xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Đối v i Ngu ễn Văn B khi H nói định trộm cắp xe má thì B đồng và B là người giúp sức đứng canh ph ng cho H trộm cắp tài sản. Mặt hác, năm 2020, B bị xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” và bị Tòa án huy n Phư c Sơn xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấ đâ làm bài học để trở thành người có ích cho xã hội mà bị cáo đã cùng H trộm cắp tài sản, điều nà cho thấ bị cáo B coi thường pháp luật. Phạm tội lần nà của B thuộc trường hợp “Tái phạm”. Vì vậ , áp dụng điểm h hoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự để xử phạt bị cáo B mức hình phạt tương xứng hành vi phạm tội. Xét về hành vi, vai tr , mức độ thì H là người hởi xư ng vừa là người thực hi n nên xử phạt H hình phạt nặng hơn B. Tuy nhiên, B phạm tội lần nà “Tái phạm”. Mục đích các bị cáo cùng nhau trộm cắp tài sản để bán lấ tiền mua ma tú sử dụng. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm tài sản của người hác và làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự an toàn trên địa bàn hu n. Do đó, xử phạt hai bị cáo mức hình phạt bằng nhau để các bị cáo có thời gian cải tạo, cai nghi n trở thành người có ích cho xã hội và ph ng ngừa chung.

Xét luận tội của Đại diện viện kiểm sát: Đại di n Vi n iểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như: Các bị cáo thành hẩn khai báo, là người dân tộc thiểu số qui định tại điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có cơ sở cần được chấp nhận. Đối v i bị cáo B áp dụng thêm tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự “Tái phạm” qui định tại điểm h hoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Các bị cáo phạm tội có bàn bạc, phân công nhi m vụ cho nhau, nên phạm tội “Có tổ chức”. Vì vậ , căn cứ điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự để xử phạt các bị cáo.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo H hông vi phạm tình tiết tăng nặng. Bị cáo B vi phạm tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự “Tái phạm” qui định tại điểm h hoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành hẩn hai báo về hành vi phạm tội của mình, tài sản mà các bị cáo trộm cắp đã được thu giữ và trả lại cho bị hại nên các bị cáo phạm tội chưa gâ thi t hại. Các bị cáo là người dân tộc thiểu số. Bị cáo H phạm tội lần đầu. Áp dụng điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt trong hi lượng hình.

Không xử phạt bổ sung vì các bị cáo có hoàn cảnh inh tế hó hăn.

Về trách nhiệm dân sự:

Bà Hoàng Thị Thanh T bị mất 01 xe mô tô nhãn hi u Yamaha Sirius màu vàng đen, hông gắn biển kiểm soát, có giá trị 6.000.000 đồng và Công an huy n Phư c Sơn đã thu giữ xe máy này. Tuy nhiên, qua điều tra xác định xe máy là tài sản của anh Trần Hữu T1 bị mất năm 2015, nên bà T yêu cầu trả xe lại cho chủ sở hữu hợp pháp và không yêu cầu gì đối v i vi c bồi thường dân sự, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Đối v i ông Lê Văn L và anh Lê Trung Ch: Khi Di p Văn H và Ngu ễn Văn B mượn xe mô tô nhãn hi u Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát 92K4 - 2875 để đi xuống Hi p Đức, t nh Quảng Nam, ông Lê Văn L không biết vi c B và H mượn xe, còn anh Lê Trung Ch khi cho B và H mượn xe thì không biết B và H dùng xe làm phương ti n đi trộm cắp tài sản, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Phư c Sơn hông xử lý.

Đối v i bà Hoàng Thị Thanh T khi mua xe nhãn hi u Yamaha Sirius màu vàng đen, hông gắn biển kiểm soát vào năm 2015 v i số tiền 4.000.000 đồng cuả một người đàn ông hông rõ lai lịch và được sử dụng vào vi c đi rừng, bà T không biết xe máy này là tài sản bị mất trộm trong một vụ án khác, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Phư c Sơn hông xử lý.

Về xử L vật chứng:

Cơ quan CSĐT Công an hu n Phư c Sơn đã thu giữ 01 xe mô tô nhãn hi u Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát 92K4 - 2875 và 01 xe mô tô nhãn hi u Yamaha Sirius màu vàng đen, hông gắn biển kiểm soát. Đối v i 01 xe mô tô nhãn hi u Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát 92K4 - 2875 là của ông Lê Văn L khi B và H mượn xe đi để làm phương ti n trộm cắp tài sản ông L không biết, nên căn cứ hoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; hoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho ông L.

Đối v i xe mô tô nhãn hi u Yamaha Sirius màu vàng đen, hông gắn biển kiểm soát. B và H lấy trộm của bà Hoàng Thị Thanh T. Tuy nhiên, quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Phư c Sơn xác định xe mô tô này là của anh Trần Hữu T1, sinh ngày 01/01/1986, trú tại: xã Gt, huy n L, t nh Q có biển kiểm soát 74B1- 072.35 bị mất năm 2015 tại quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng nhưng hông trình báo sự vi c. Hi n nay anh T1 đang đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, hông làm vi c được v i cơ quan chức năng. Bà Hoàng Thị Thanh T khai nhận mua của một người đàn ông hông rõ lai lịch vào năm 2015 v i giá 4.000.000 đồng để đi rừng. Lúc mua, bà Hoàng Thị Thanh T không biết đâ là tài sản trộm cắp. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Phư c Sơn t nh Quảng Nam đã chu ển thông tin tội phạm đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Gio Linh, t nh Quảng Trị thông báo cho chủ sở hữu để giải quyết theo qu định pháp luật. Vật chứng hi n đang B quản tại Kho vật chứng Công an huy n Phư c Sơn.

Về án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng hoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a hoản 1 Điều 23 của Nghị qu ết số: 326/2016/UBTVQH14 ngà 30/12/2016 của Ủ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản L và sử dụng án phí và l phí T a án buộc các bị cáo phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tu ên bố bị cáo Di p Văn H và Ngu ễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ điểm a hoản 2 Điều 173; điểm h hoản 1 Điều 52; điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo:

Ngu ễn Văn B: 03 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ 20/6/2021.

Căn cứ điểm a hoản 2 Điều 173; điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo:

Di p Văn H: 03(ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ 20/6/2021.

- Về xử L vật chứng:

Căn cứ điểm b hoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b hoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên trả lại cho ông Lê Văn L 01 xe mô tô nhãn hi u Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát 92K4 - 2875 đã qua sử dụng.

Vật chứng hi n Chi cục thi hành án dân sự hu n Phư c Sơn đang tạm giữ theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngà 30/9/2021.

- Án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu: 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

Bị cáo; người có qu ền lợi, nghĩa vụ liên quan có qu ền háng cáo trong hạn 15 ngà ể từ ngà tu ên án sơ thẩm.

Bị hại; người có qu ền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có qu ền háng cáo trong hạn 15 ngà ể từ ngà nhận được bản án sơ thẩm hoặc được niêm ết.

Cỡ chữ