- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Minh T - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Minh T phạm tội "Chống người thi hành công vụ”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2021/HS- ST Ngày 05 – 4 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hồng Nam;
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nông Văn Thịnh;
2. Ông Hoàng Văn Khởi.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mạnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Lương.
- Đại diện VKSND huyện Phú Lương tham gia phiên tòa: Bà Trần Lan Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở TAND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2021/TLST - HS ngày 23 tháng 02 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2021/HSST- QĐ ngày 22 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
Hoàng Minh T; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam;
Sinh ngày 17 tháng 7 năm 2002.
Nơi cư trú: Xóm V, xã P, huyện Đại Từ, Thái Nguyên.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12;.
Họ và tên bố: Hoàng Văn Đ, sinh năm 1980. Mẹ: Trần Thị L, sinh năm 1982. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị can bị bắt tạm giam từ ngày 11/12/2020, đến ngày 11/02/2021 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn "Bảo lĩnh" . Hiện tại ngoại tại địa phương. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1- Anh Nguyễn Đức Q, sinh năm 1998. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ nơi làm việc: Phòng Cảnh sát cơ động Công an tỉnh Thái Nguyên.
2- Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1980. (Có mặt)
Địa chỉ: Xóm V, xã P, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Người bào chữa cho bị cáo:
Bà Lê Thúy H, trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Thái Nguyên. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Người làm chứng:
1- Anh Đặng Minh T, sinh năm 1988. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ nơi làm việc: Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Thái Nguyên.
2- Anh Ma Phương Đ, sinh năm 1992. (vắng mặt)
Địa chỉ nơi làm việc: Phòng Cảnh sát cơ động Công an tỉnh Thái Nguyên.
3- Anh Đào Quý Q, sinh năm 1978. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ nơi làm việc: Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Thái Nguyên.
4- Cháu Nguyễn Thị Hương G, sinh năm 2004. (vắng mặt)
Đại chỉ: Xóm N, xã L, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
5- Anh Nguyễn Trung T, sinh năm 1979. (vắng mặt)
Đại chỉ: Xóm 9, xã C, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 09/12/2020, tại Km 79 + 300m đường Quốc lộ 3 Hà Nội - Cao Bằng, đoạn thuộc địa phận xóm 9, xã C, huyện Phú Lương, tổ công tác Công an tỉnh Thái Nguyên thực hiện nhiệm vụ tuần tra, xử lý vi phạm luật giao thông đường bộ theo kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Tổ công tác gồm các ông Đào Quý Q, ông Đặng Minh T, cán bộ phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Thái Nguyên, ông Nguyễn Đức Q, ông Ma Phương Đ, cán bộ phòng Cảnh sát cơ động Công an tỉnh Thái Nguyên, do ông Q làm tổ trưởng. Tất cả mặc trang phục ngành, sử dụng các biển hiệu, cọc tiêu theo quy định. Ông Ma Phương Đ được phân công đứng tại ví trí ngã ba B, xã C, huyện Phú Lương làm nhiệm vụ ghi hình các phương tiện giao thông đi từ Quốc lộ 37 ra Quốc lộ 3, khi có vi phạm thì báo bằng bộ đàm cho chốt kiểm tra cách đó khoảng 100 mét biết, để dừng xe xử lý. Khoảng 16 giờ cùng ngày, ông Đ phát hiện xe mô tô BKS 20F1 - 191.41, màu đỏ, có chở theo 01 người khi chuyển hướng không có tín hiệu đèn báo rẽ (sau xác định là Hoàng Minh T điều khiển chở Nguyễn Thị Hương G). Ông Đ thông báo qua bộ đàm cho tổ công tác tại chốt kiểm tra về vi phạm của phương tiện trên. Khi tiếp nhận được thông tin, ông T, ông Q có đi ra giữa đường, hai người đứng cách nhau khoảng 05 m và dọc theo đường. Thái điều khiển phát hiện thấy ông Tuấn giơ gậy, thổi còi ra hiệu lệnh dừng xe nhưng T không giảm tốc độ, khi đến gần vị trí ông Tuấn thì cho xe tăng tốc độ, thấy vậy ông T quay người để tránh. Khi T vượt qua được vị trí ông T thì đâm thẳng vào ông Q hất ông Q văng ngã xuống đường. Xe mô tô bị trượt đổ ra đường, T, G ngã ra đường bị thương tích nhẹ, xe mô tô bị hư hỏng nhẹ. Hậu quả làm ông Q bị thương phải đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Quốc tế Thái Nguyên đến ngày 11/12/2020 ra viện.
Tại cơ quan điều tra, Hoàng Minh T khai nhận: Ngày 09/12/2020, Thái lấy xe mô tô BKS 20F1 - 191.41, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, màu sơn Đỏ - Đen - Bạc của bố đẻ là Hoàng Văn Đ để đi chơi và có chở theo bạn gái là Nguyễn Thị Hương G, sinh năm 2004, trú tại xóm N, xã L, thành phố Thái Nguyên. Khi đi qua ngã ba B, xã C, huyện Phú Lương điều khiển xe chuyển hướng không có tín hiệu báo rẽ. Bị Cảnh sát giao thông phát hiện, ra hiệu lệnh dừng xe do chưa có giấy phép lái xe, sợ bị xử phạt hành chính và bị giữ xe nên không chấp hành hiệu lệnh và điều khiển xe đâm vào tổ công tác để tẩu thoát. Lời khai nhận tội của bị can Thái phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lương đã thu thập trong hồ sơ vụ án.
Tại bệnh án ngoại khoa số 120946 của Bệnh viện quốc tế Thái Nguyên đối với bệnh nhân Nguyễn Đức Q điều trị: Đụng giập gối trái, vết thương liên cung mày, chấn động não”.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 747/TgT ngày 04/01/2021 kết luận: “1. Dấu hiệu qua giám định: Hiện tại có 01 sẹo vết thương phần mềm vùng mặt KT trung bình; 2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 6%.”
Vật chứng vụ án hiện còn tạm giữ: 01 áo khoác bông màu đỏ; 01 quần vải màu đen của Hoàng Minh T. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng theo quy định. 03 đoạn video được lưu trữ trong 01 đĩa DVD maxell liên quan đến vụ án trên được niêm phong trong bì ký hiệu A1, bảo quản theo hồ sơ vụ án.
Đối với xe mô tô BKS 20F1-191.41, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, màu sơn Đỏ - Đen - Bạc là tài sản thuộc sở hữu của ông Hoàng Văn Đ, sinh năm 1980, là bố của Thái nên cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Lương đã trả lại cho ông Đ quản lý.
Về phần dân sự: Bị cáo Hoàng Minh T và gia đình đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Đức Q tổng số tiền 15.000.000 đồng. Ông Q không có yêu cầu đề nghị gì thêm.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên. Xác định không bị ép cung, nhục hình, khai báo trong tình trạng sức khỏe tốt, tỉnh táo. Được nhận bản cáo trạng, đã đọc kỹ và nghe công bố tại phiên tòa, không thắc mắc về nội dung bản cáo trạng. Được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Hoàng Minh T. Bản cáo trạng số 12/CT-VKSPL ngày 23 tháng 02 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương truy tố bị cáo Hoàng Minh T về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 BLHS.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Minh T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”
Áp dụng: Khoản 1 Điều 330; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và 65 BLHS. Điều 135, 136 BLTTHS 2015; Luật phí và lệ phí 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Hoàng Minh T mức án từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Ấn định thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.
Dân sự: Đề nghị ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo và gia đình số tiền 15 triệu đồng cho anh Q.
Vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng là áo, quần do bị cáo không nhận lại.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận: Do người trợ giúp pháp lý bà Nguyễn Thúy H, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và gửi bản luận cứ bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa, Tòa án đã cho công bố lời bào chữa và được tóm tắt như sau:
Về tội danh và Điều luật nhất trí với bản cáo trạng của Viện kiểm sát
Về tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là khắc phục hậu quả, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người phạm tội thành khẩn khai báo, quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 BLHS và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất, cho bị cáo cải tạo tại địa phương.
Bị cáo không tranh luận gì nhất trí với đề nghị của Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Lương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét về hành vi của bị cáo: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện giao thông, biên bản khám nghiệm pháp y, kết luận của cơ quan giám định cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, do vậy có đủ căn cứ để xác định:
Hồi 16 giờ 10 phút ngày 09/12/2020, tại Km79 + 300m đường Quốc lộ 3 Hà Nội – Cao Bằng thuộc địa phận xóm 9, xã C, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Hoàng Minh T không có giấy phép lái xe mô tô, điều khiển xe mô tô BKS 20F1-191.41, khi chuyển hướng không có tín hiệu báo rẽ. Thái nhìn thấy ông Đặng Minh T Cảnh sát giao thông và ông Nguyễn Đức Q Cảnh sát sát cơ động, mặc quân phục Ngành cảnh sát, đang làm nhiệm vụ, thổi còi và giơ gậy ra hiệu lệnh dừng xe nhưng T đã không chấp hành hiệu lệnh, điều khiển xe tăng tốc độ, đâm thẳng vị trí ông T, ông Q, buộc ông T phải né tránh sang bên cạnh. Xe mô tô tiếp tục đâm thẳng vào ông Nguyễn Đức Q, hất ông Q văng ngã xuống đường, làm ông Q bị thương, phải vào Bệnh viện cấp cứu, điều trị đến ngày 11/12/2020 thì được ra viện, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 6%.
Hành vi nêu trên của Hoàng Minh T đã phạm vào tội “Chống người thi hành công vụ” được quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật quy định như sau:
“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”
Về tính chất, mức độ hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất của vụ án thuộc trường ít hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm đến trật tự giao thông đường bộ, cản trở người thực thi nhiệm vụ, xâm phạm đến sức khỏe của người thi hành công vụ. Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự mà điều luật quy định.
Xét các yếu tố về nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người tuổi đời còn trẻ mới trên 18 tuổi vi phạm lần đầu, có nhân thân tốt, quá trình sinh sống tại địa phương chưa có tiền án, tiền sự.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và quá trình sảy ra sự việc gây thương tích cho anh Nguyên Đức Q bị cáo và gia đình đã tự tự nguyện khắc phục hậu quả do vậy bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các yếu tố về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy không cần phải cách ly đối với bị cáo mà cho bị cáo cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đảm bảo tính răn đe giáo dục.
Về dân sự: Cần ghi nhận sự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả của bị cáo Hoàng Minh T và gia đình đối với anh Nguyễn Đức Q tổng số tiền 15.000.000 đồng.
Về vật chứng: 01 áo khoác bông mầu đỏ, có khâu liền mũ chùm mầu đỏ, ngực trái có thêu chữ M trên miếng vải hình tròn, đường kính 6,8cm màu đen, ống tay bên phải có vết sờn vải màu đen kích thước 16x30cm. 01 quần vải màu đen, mặt trước ống quần trái tại vị trí cách mép gấu quần 30cm có lỗ thủng rách vải kích thước 4x2cm. Do bị cáo không nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
01 đĩa DVD Maxell lưu trưc các Video liên quan đến vụ án đây là chứng cứ cần được bảo quản theo hồ sơ.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Đối với anh Hoàng Văn Đ là chủ sở hữu xe mô tô BKS 20F1-191.41, là bố đẻ của Hoành Minh T nhưng không biết việc T lấy xe mô tô trên sử dụng. Nguyễn Thị Hương G ngồi sau xe mô tô do T điều khiển bị thương tích nhẹ, không có yêu cầu đề nghị gì, không biết việc T có hành vi không chấp hành hiệu lệnh dừng xe nên hành vi không cấu thành tội phạm.
Xét đề nghị của người bào chữa bảo vệ quyền lợi cho bị cáo là có căn cứ cần được chấp nhận.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà về hình phạt cũng như các vấn đề khác là phù hợp nên cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1, Điều 330 BLHS, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 BLHS; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 299, 326 BLTTHS.
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Minh T phạm tội "Chống người thi hành công vụ”
1. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Minh T 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho
hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về dân sự: Cần ghi nhận sự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả của bị cáo Hoàng Minh T và gia đình đối với anh Nguyễn Đức Q tổng số tiền 15.000.000 đồng.
3.Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS
Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác bông mầu đỏ, có khâu liền mũ chùm mầu đỏ, ngực trái có thêu chữ M trên miếng vải hình tròn, đường kính 6,8cm màu đen, ống tay bên phải có vết sờn vải màu đen kích thước 16x30cm. 01 quần vải màu đen, mặt trước ống quần trái tại vị trí cách mép gấu quần 30cm có lỗ thủng rách vải kích thước 4x2cm.
01 đĩa DVD Maxell lưu trưc các Video liên quan đến vụ án đây là chứng cứ cần được bảo quản theo hồ sơ.
4.Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 BLTTHS 2015; Luật phí và lệ phí 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Án xử công khai sơ thẩm.
Có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Nơi nhận:
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND H. Phú Lương;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- THADS H. Phú Lương;
- Công an H. Phú Lương;
- TAND tỉnh Thái Nguyên;
- Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
- THAHS - Công an tỉnh TN;
- UBND xã P;
- Bị cáo;
Ngô Hồng Nam -Lưu Hs, VP. TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN PHÚ LƯƠNG
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH THÁI NGUYÊN Phú Lương, ngày 25 tháng 01 năm 2018 Số / TB-TA
THÔNG BÁO KẾT QUẢ XÉT XỬ
Kính gửi: Ủy ban nhân dân xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
Ngày 25 tháng 01 năm 2018 Tòa án nhân dân huyện Phú Lương đã xét xử
công khai vụ án Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ đối với bị cáo.
Trần Văn Sơn. Tên gọi khác: Không – Sinh ngày 17/7/1994.
Nơi sinh và Nơi cư trú: Xóm Cây Lãn, xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Sán Dìu; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn Ngọc – Sinh năm 1967 và bà Chu Thị Tư – Sinh năm 1971. Vợ: Nguyễn Thùy Linh – Sinh năm 1997. Con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Quyết định của bản án:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 202 BLHS 1999, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Sơn phạm tội "Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”
1.Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Sơn 15 ( mười lăm) tháng tù cho hưởng án
treo, thời giản thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục.
Tòa án nhân dân huyện Phú Lương thông báo để quý Ủy ban nhân dân xã được biết
| Nơi nhận - Như kg - Lưu HS | tm. héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ Lưu Đình Thân |