vanban.org

Bản án 20/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Lò Thị H.

Xử cho chị Lò Thị H được ly hôn anh Quàng Văn Th. Về con chung: Giao con chung là Lò Ngọc Tr, sinh 25/12/2020 cho chị Lò Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Quàng Văn Th không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chi H. Anh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA LY HÔN GIỮA LÒ THỊ H- QUÀNG VĂN TH"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Lò Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình xác định mâu thuẫn; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2021/HNGĐ-ST
Ngày 26 - 7 - 2021
V/v Xin ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lô Văn Long

Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thành Vân và ông Quàng Văn Tiện

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quang Hùng – Thư ký tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 104/2021/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2021 về việc: Xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2021/QĐXX-ST, ngày 24 tháng 6 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2021/QĐST-HNGĐ ngyày 09 tháng 7 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lò Thị H, sinh năm 2001, địa chỉ: Bản Chiềng C, xã Chiềng C, huyện Sông M, tỉnh Sơn La, có mặt.

Bị đơn: Anh Quàng Văn Th, sinh năm 1998, địa chỉ: Bản Nà T, xã Nậm T, huyện Sông M, tỉnh Sơn La, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 14 tháng 3 năm 2021 và bản tự khai ngày 18 tháng 3 năm 2021 cũng như trong quá trình tố tụng tại phiên tòa chị Lò Thị H trình bày:

Chị và anh Quàng Văn Th tự nguyện kết hôn vào ngày 15/10/2019 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Chiềng Cang, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Sau khi kết hôn được một thời gian ngắn thì cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, luôn có mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cãi vã lẫn nhau, vợ chồng đã sống ly thân được một năm. Nay chị H thấy tình cảm không còn, không thể chung sống được với anh Th nên chị có nguyện vọng xin ly hôn với anh Th.

Về con chung: Vợ, chồng có một con chung là Lò Ngọc Tr, sinh 25/12/2020. Nếu ly hôn chị xin được nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung và không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị.

Về tài sản chung: Không đề nghị tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Đối với bị đơn Quàng Văn Th quá trình giải quyết vụ án anh Th không hợp tác để giải quyết, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần và trực tiếp lập biên bản niên yết tại địa phương nhưng anh Th vẫn không có mặt tại Tòa án để làm việc, vì vậy Tòa án đã tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Tại phiên Tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện phát biểu quan điểm nội dụng vu án:

Về nội dung vụ án: Năm 2019 chị H và anh Th kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, sau khi kết hôn ược một thời gian ngắn thì vợ chồng sống không hạnh phúc do thường xuyên cãi cọ lẫn nhau. Nay thấy tình cảm không còn chị H khởi kiện xin ly hôn với anh Th.

Quan điểm giải quyết nội dụng vụ án: Xét thấy xác nhận tình trạng hôn nhân của chị H và anh Th có đăng ký kết hôn vào năm 2019 trên cơ sở tự nguyện do UBND xã Chiềng Cang huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La cấp giấy đăng ký kết hôn và các tài liệu có trong hồ sơ, lời khai trình bày của đương sự nên cần căn cứ các Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình quy định các điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn, việc nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm ly hôn cần căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình ly hôn theo yều cầu một bên. Đề nghị HĐXX:

- Chấp nhận yêu cầu đơn xin ly hôn của chị Lò Thị H, tuyên xử cho chị Lò Thị H được ly hôn anh Quàng Văn Th.

- Về con chung: Cần giao con chung là Lò Ngọc Tr, sinh 25/12/2020 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục theo nguyện vọng thì chị H, không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị H.

-Về tài sản chung: Không đề nghị giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

- Về án phí: Áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 về mức thu thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án; Khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuyên nguyên đơn phải chịu án phí xét xử sơ thẩm 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và đã được xem xét thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn Quàng Văn Th có hộ khẩu thường trú tại bản Nà T, xã Nậm T, huyện Sông M được Tòa án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Đối với bị đơn Quàng Văn Th trong quá trình giải quyết vụ án anh Th không hợp tác để giải quyết, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần và trực tiếp lập biên bản niên yết tại địa phương nhưng anh Th vẫn không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng với quy định tại khoản 1, 3 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án nhân dân đã giao quyết định đưa vụ án ra xét xử và hồ sơ cho viện Kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn.

Vì vậy Tòa án căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Quàng Văn Th.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị H kết hôn với anh Quàng Văn Th trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Chiềng Cang, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La căn cứ vào khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống trên cơ sở tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thấy: Trong thời gian chung sống chị H và anh Th sống không hạnh phúc trong cuộc sống luôn phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cãi vã lẫn nhau. Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình xác định mâu thuẫn của chị Hà và anh Th đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị H xin ly hôn anh Th là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của chị H được ly hôn anh Th.

Về con chung: Chị Lò Thị H và anh Quàng Văn Th có 01 con chung là Lò Ngọc Tr, sinh 25/12/2020. Trường hợp ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung và không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Về nợ chung: Không có.

Về án phí: Chị Lò Thị H là nguyên đơn nên phải chịu toàn bộ án phí xin ly hôn theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 227, 228, 271, 273, 277 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào các Điều 19 khoản 1 Điều 51 khoản 1 Điều 56; Điều 58 Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình;

Căn cứ khoản 3 Điều 21, điểm a khoản 5 Điều 27; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Lò Thị H.

2. Xử cho chị Lò Thị H được ly hôn anh Quàng Văn Th.

3. Về con chung: Giao con chung là Lò Ngọc Tr, sinh 25/12/2020 cho chị Lò Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Quàng Văn Th không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chi H. Anh Th có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không được ai cản trở.

4. Về tài sản chung: Không đề nghị giải quyết trong vụ án này.

5. Về nợ chung: Không có.

6. Về án phí: Chị Lò Thị H phải nộp án phí xin ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0001595 ngày 18/3/2021 tại Chi cục thi hành án huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

7. Về quyền kháng cáo: Chị Lò Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Quàng Văn Th có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ