- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xét xử"
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!! HUYỆN!BÙ!GIA!MẬP! TỈNH!BÌNH!PHƯỚC! ! Bản án số: 20/2021/HNGĐ-ST Ngày: 05-7-2021 |
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”
!
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!BÙ!GIA!MẬP,!TỈNH!BÌNH!PHƯỚC!
Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Bà Trần Thị Hải Ly
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Đình Thạch
Bà Nguyễn Thị Mùa
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bù
Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước
tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2021/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 55/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 50/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê!Thị!H, sinh năm 1985 (Có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 1, xã P, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
Bị đơn: Ông Nguyễn!Văn!L, sinh năm 1980 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 1, xã P, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.!
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Nguyên!đơn!bà!Lê!Thị!H!trình!bày:"
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1980 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tây Bình, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định vào ngày 02/02/2009.
Thời kỳ đầu hôn nhân bà H ông L sống hạnh phúc, đến năm 2017 vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn do khác biệt về tính tình, quan điểm sống, ông L thường xuyên nhậu nhẹt thâu đêm, nhiều khi không về nhà và không quan tâm chăm lo cho vợ con nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng.
Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân chung sống hạnh phúc không đạt được, bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn L.
Về con chung: Bà và ông L có 02 người con chung là Nguyễn Lê Đăng V, sinh ngày 17/11/2009 và Nguyễn Lê Gia H, sinh ngày 08/10/2015. Khi ly hôn bà H yêu cầu được nuôi cả 02 người con chung và chỉ yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi cháu V mỗi tháng 2.000.000 (hai triệu) đồng cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Văn L vắng mặt nên không có bản lời khai.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đều thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đúng quy định của pháp luật nhưng ông L từ chối nhận và vẫn vắng mặt không có lý do, thì đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về hướng giải quyết vụ án: Nguyên đơn, bị đơn tự nguyện sống chung với nhau có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật, sau đó phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không nói chuyện, chia sẻ được với nhau nên mâu thuẫn càng trở nên trầm trọng. Nay, nguyên đơn có nguyện vọng được ly hôn; bị đơn đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên hòa giải nhiều lần nhưng không hợp tác. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho nguyên đơn và bị đơn được ly hôn với nhau; giao con chung cho nguyên đơn nuôi dưỡng, bị đơn phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản không yêu cầu tòa án giải quyết thì đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:
Bà Lê Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Văn L có hộ khẩu thường trú và cư trú tại Thôn 01, xã P, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước. Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Căn cứ vào các Điều 28; 35; 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51; 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Lê Thị H có đơn xin vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Văn L vắng mặt không có lý do. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà H đã trình bày rõ ý kiến, quan điểm của mình và có đơn xin giải quyết vụ án vắng mặt, việc vắng mặt của bà H là hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định của pháp luật; đối với bị đơn ông L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 227 và điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
[2]Về nội dung vụ án:
[a] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông L được hình thành trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Tây Bình, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định vào ngày 02/02/2009, đúng theo quy định pháp luật, là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị H, Hội đồng xét xử thấy: Bà H trình bày trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, đặc biệt từ năm 2017 đến nay mâu thuẫn trở nên trầm trọng, vợ chồng không nói chuyện được với nhau, đời sống hôn nhân trở nên căng thẳng, mệt mỏi, không ai quan tâm đến ai. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, các ngày 12/5 và 01/6/2021 Tòa án đã tiến hành xác minh tại chính quyền địa pH nơi ông L, bà H cư trú được biết vợ chồng ông L bà H có xảy ra mâu thuẫn, thường tránh mặt nhau, không nói chuyện được với nhau; đại diện thôn 01 nhiều lần tiến hành hòa giải nhưng không có kết quả. Từ những căn cứ trên cho thấy hôn nhân giữa ông L, bà H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn bà Lê Thị H.
[b] Về con chung: Bà H và ông L có 02 người con chung là Nguyễn Lê Đăng V, sinh ngày 17/11/2009 và Nguyễn Lê Gia H, sinh ngày 08/10/2015. Sau khi ly hôn bà H có nguyện vọng được nuôi 02 người con chung và chỉ yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi cháu V 2.000.000 (hai triệu) đồng/01 tháng cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Còn bị đơn ông L không hợp tác nên, không có ý kiến, yêu cầu gì về việc nuôi con. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án cháu V trình bày mong muốn được sống với mẹ, còn cháu Hân chưa đủ 07 tuổi nên để bảo đảm quyền lợi, cũng như sự ổn định của các con chưa thành niên và nguyện vọng của các cháu. Do đó, cần giao các con chung là: Nguyễn Lê Đăng V, sinh ngày 17/11/2009 và cháu Nguyễn Lê Gia H, sinh ngày 08/10/2015 cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Lê Đăng V, ngày 07/6/2021 Tòa án đã tiến hành xác minh tại Bưu điện huyện Bù Gia Mập nơi ông L công tác. Hiện mức thu nhập của ông L tại Bưu điện là 8.000.000 đồng/01 tháng. Vì vậy, cần buộc ông L phải cấp dưỡng nuôi con chung là cháu V 2.000.000 (hai triệu) đồng/1 tháng cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con là phù hợp.
[c] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tại phiên tòa là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[d] Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn) đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT!ĐỊNH:!
Áp dụng các Điều 28; 35; 39; 147; 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Các Điều 51; 53; 56; 81; 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn L.
2/ Về việc nuôi con: Giao cho bà Lê Thị H trực tiếp nuôi con chung là các cháu: Nguyễn Lê Đăng V, sinh ngày 17/11/2009 và Nguyễn Lê Gia H, sinh ngày 08/10/2015. Ông Nguyễn Văn L phải cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Lê Đăng V 2.000.000 đồng/01 tháng cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, ông L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con, không ai được cản trở ông thực hiện quyền này.
Vì lợi ích mọi mặt của con ông L, bà H có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
3/ Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lê Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007552 ngày 05 tháng 01 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
4/ Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./. Nơi"nhận:
TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!
- TAND tỉnh Bính Phước;
Thẩm!phán!-!Chủ!tọa!phiên!tòa!
- VKSND huyện Bù Gia Mập;
!
- THADS huyện Bù Gia Mập;
- Các đương sự;
!
- UBND xã Tây Bình;
- Lưu hồ sơ vụ án.
!
Trần!Thị!Hải!Ly
!