vanban.org

Bản án 20/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc Ly hôn với một người đã bị Tòa án tuyên bố mất tích của anh Ma Đức Th đối với chị Vàng Thị L.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Ma Đức Th được ly hôn với chị Vàng Thị L. Về con chung: Giao các con chung là Ma Văn H, sinh ngày 24/3/2003, Ma Thị M, sinh ngày 19/01/2005 và Ma Thị L, sinh ngày 04/7/2008 cho anh Ma Đức Th trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các con trưởng thành đủ 18 tuổi. Trong… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "MA ĐỨC THÀNH - VÀNG THỊ LẦU"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc Ly hôn với một người đã bị Tòa án tuyên bố mất tích của anh Ma Đức Th đối với chị Vàng Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VỊ X
TỈNH HÀ G

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————
Bản án số: 20/2021/HNGĐ-ST
Ngày 07 - 7 - 2021
“V/v Ly hôn với một người đã bị Tòa
án tuyên bố mất tích”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ X, TỈNH HÀ G

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:1. Bà Trần Thị Hoài.

2. Bà Khương Thị Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị X, tỉnh Hà G.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị X tham gia phiên tòa: Bà Võ Thu Hằng – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 7 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị X, tỉnh Hà G xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 47/2021/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2021 về việc Ly hôn với một người đã bị Tòa án tuyên bố mất tích, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Ma Đức Th, sinh năm: 1978; Nơi cư trú: Thôn Minh T, xã Thuận H, huyện Vị X, tỉnh Hà G (Có mặt).

2. Bị đơn: Chị Vàng Thị L, sinh năm: 1980; địa chỉ và nơi cư trú cuối cùng: Thôn Minh T, xã Thuận H, huyện Vị X, tỉnh Hà G, Vắng mặt, do đã bị Tòa án tuyên bố mất tích. \

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 25/3/2021 và bản tự khai cùng các tài liệu có trong hồ sơ, Nguyên đơn anh Ma Đức Th trình bày: Anh Thvà chị Vàng Thị L về chung sống với nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thuận H, huyện Vị X, tỉnh Hà G vào ngày 14/01/2008. Trong quá trình chung sống vợ, chồng hòa thuận, hạnh phúc có ba con chung, là Ma Văn H, sinh ngày 24/3/2003, Ma Thị M, sinh ngày 19/01/2005 và Ma Thị L, sinh ngày 04/7/2008. Đến ngày 28/7/2015 chị Vàng Thị L đã tự ý bỏ nhà đi từ đó đến nay không có tìn tức gì, anh Thvà người thân đã chủ động tìm kiếm đủ mọi biện pháp như nhờ anh, em họ hàng, bạn bè, thông báo tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng không có kết quả. Vì vậy, theo yêu cầu của anh Th, ngày 11/3/2021 Tòa án nhân dân huyện Vị X đã Quyết định tuyên bố mất tích đối với chị Vàng Thị L, sinh năm 1980. Để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của mình, ngày 25/3/2021 anh Th có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với người đã mất tích là chị Vàng Thị L theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Anh Th và chị Lcó ba con chung là: Ma Văn H, sinh ngày 24/3/2003, Ma Thị M, sinh ngày 19/01/2005 và Ma Thị L, sinh ngày 04/7/2008, hiện nay các con đang ở với anh Th tại thôn Minh T, xã Thuận H, huyện Vị X, tỉnh Hà G, Khi ly hôn anh Th có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục các con cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi, vì chị Vàng Thị L đang mất tích nên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về công nợ chung: Anh Th cam kết trong thời gian chung sống vợ chồng anh không có công nợ chung.

- Đối với chị Vàng Thị L đã bị Tòa án tuyên bố mất tích từ tháng 3 năm 2021. Kết quả Tòa án xác minh tại UBND xã Thuận H cho thấy, chị L đã bỏ nhà đi từ tháng 7 năm 2015 cho đến nay vẫn không có tin tức gì với gia đình và hiện tại không có mặt tại địa phương. Vì vậy, Tòa án không triệu tập chị Lvà tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng không hòa giải theo thủ tục chung, kể từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng liên quan đến việc giải quyết vụ án tại Ủy ban nhân dân xã Thuận H, nhưng đến ngày 21/6/2021 Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai sơ thẩm, chị Vàng Thị L vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy Tòa án không thu thập được tài liệu, chứng cứ, bản tự khai của chị Lầu; Căn cứ vào tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và kết quả xác minh của Tòa án với chính quyền địa phương nơi cư trú cuối cùng của chị Lđể giải quyết theo luật định.

Tại phiên tòa:

- Anh Ma Đức Th vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin được ly hôn với chị Vàng Thị L để có điều kiện ổn định cuộc sống riêng và nuôi dạy con trưởng thành.

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhận dân huyện Vị X, tỉnh Hà G:

+) Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, đã xác định tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và Quyết định đưa vụ án ra xét xử đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, tư cách pháp lý và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm dân sự. Người tham gia tố tụng nguyên đơn anh Ma Đức Th đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn chị Vàng Thị L đã bị Tòa án tuyên bố mất tích, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt bị đơn là có căn cứ.

+) Về nội dung giải quyết vụ án: Do chị Vàng Thị L đã bị Tòa án tuyên bố mất tích đến nay vẫn chưa trở về nên làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống riêng của anh Ma Đức Th. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Ma Đức Th với chị Vàng Thị L và áp dụng khoản 1 Điều 53, khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để xử cho anh Ma Đức Th được ly hôn với chị Vàng Thị L; Con chung: Đề nghị HĐXX giao cho anh Thcó trách nhiệm trực tiếp, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục các con là: Ma Văn H, sinh ngày 24/3/2003, Ma Thị M, sinh ngày 19/01/2005, Ma Thị L, sinh ngày 04/7/2008 cho đến khi trưởng thành; Tài sản chung, tài sản riêng; công nợ chung: Anh Thkhông yêu cầu Tòa án giải quyết nên Viện Kiểm sát không có ý kiến; Về án phí: UBND xã Thuận H xác nhận gia đình anh Ththuộc hộ nghèo của xã, đồng thời anh Thcó đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm. Đề nghị HĐXX xem xét miễn án phí cho anh Th.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

. Về tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, do chị Vàng Thị L bị tuyên bố mất tích nên Tòa án không tiến hành hòa giải, chỉ mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại các Điều 207, 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về quan hệ hôn nhân: Anh Ma Đức Th và chị Vàng Thị L là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thuận H, huyện Vị X, tỉnh Hà G vào ngày 14/01/2008, nên quan hệ vợ chồng của anh Thvà chị Llà hợp pháp. Lý do anh Thxin ly hôn vì chị Lđã bị Tòa án tuyên bố mất tích. Căn cứ quyết định số 01/2021/QĐST-VDS ngày 11/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Vị X tuyên bố chị Vàng Thị L mất tích đã có hiệu lực pháp luật và kể từ khi Tòa án thông báo thụ lý vụ án đến ngày Tòa án mở phiên tòa chị Lvẫn vắng mặt. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Ma Đức Th, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho anh Ma Đức Th được ly hôn với chị Vàng Thị L.

Về con chung: Anh Thvà chị Lcó ba con chung là: Ma Văn H, sinh ngày 24/3/2003, Ma Thị M, sinh ngày 19/01/2005 và Ma Thị L, sinh ngày 04/7/2008. Sau khi ly hôn anh Thcó nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục các con cho đến khi trưởng thành. Xét yêu cầu của anh Thvề việc xin được nuôi con chung, Hội đồng xét xử thấy: Việc giao con cho ai nuôi dưỡng, phải căn cứ quyền lợi mọi mặt của người con chưa thành niên. Theo kết quả xác minh thực tế kể từ khi chị Lbỏ đi biệt tích đến nay anh Thvẫn đang trực tiếp nuôi dưỡng các con, công việc làm của anh Th ổn định có mức thu nhập đảm bảo để chăm sóc nuôi dưỡng con phát triển và trưởng thành toàn diện, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao các con cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Trong thời gian anh Thtrực tiếp nuôi con mà chị Ltrở về, nếu các con chưa đủ 18 tuổi, khi cần thiết vì lợi ích của con chung các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh Th không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét trong cùng vụ án.

Về án phí: Theo xác nhận của UBND xã Thuận H đối với gia đình anh Thlà hộ nghèo của xã, đồng thời anh Thcó đơn xin miễn án phí. Vì vậy anh Thcó đủ điều kiện được HĐXX miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 2 Điều 56 và Điều 81; Điều 82; Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng điểm đ, khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc Ly hôn với một người đã bị Tòa án tuyên bố mất tích của anh Ma Đức Th đối với chị Vàng Thị L.

2. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Ma Đức Th được ly hôn với chị Vàng Thị L.

3.Về con chung: Giao các con chung là Ma Văn H, sinh ngày 24/3/2003, Ma Thị M, sinh ngày 19/01/2005 và Ma Thị L, sinh ngày 04/7/2008 cho anh Ma Đức Th trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các con trưởng thành đủ 18 tuổi. Trong thời gian anh Thtrực tiếp nuôi con mà chị Ltrở về, nếu các con chưa đủ 18 tuổi, khi cần thiết vì lợi ích của con chung các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

4. Về án phí: Anh Ma Đức Th được miễn 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Anh Ma Đức Th, chị Vàng Thị L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết tại nơi thường trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hành án dân sự.

Cỡ chữ