- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp góp họ giữa bà T và bà L"
- Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 - 9 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 2 Luật Người cao tuổi; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2021/DS - ST Ngày: 25 - 02 - 2021 V/v “Tranh chấp hợp đồng dân sự góp họ (hụi) và vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Thanh Phát
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Minh Tuấn
2. Ông Trịnh Hoàng Giang
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Lộc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 25 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 371/2020/TLST - DS ngày 30 tháng 12 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng dân sự góp họ (hụi) và vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2021/QĐXXST - DS ngày 09 tháng 02 năm 2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm: 1944 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm: 1972 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28/9/2020 và quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Thị T là nguyên đơn trình bày:
Năm 2018 - 2020, bà tham gia giao dịch dân sự góp họ (hụi) do bà Trần Thị L làm chủ và cho bà Trần Thị L vay tài sản, cụ thể như sau:
Dây họ thứ 01: Ngày 09/9/2018, dây họ là 1.000.000 đồng, kỳ mở họ một tháng 01 lần, có 22 thành viên, bà tham gia 01 phần và là người lĩnh họ cuối cùng nhưng bà L chưa giao số tiền là 21.000.000 đồng.
Dây họ thứ 02: Ngày 06/8/2019, dây họ là 2.000.000 đồng, kỳ mở họ một tháng 01 lần, có 12 thành viên, bà tham gia 01 phần và là người lĩnh họ cuối cùng nhưng bà L chưa giao số tiền là 22.000.000 đồng.
Dây họ thứ 03: Ngày 15/11/2019, dây họ là 2.000.000 đồng, kỳ mở họ một tháng 01 lần, có 13 thành viên, bà tham gia 01 phần và đã góp họ được 08 lần, số tiền thực góp là 9.100.000 đồng.
Dây họ thứ 04: Ngày 11/02/2020, dây họ là 300.000 đồng, kỳ mở họ một tuần 01 lần, có 21 thành viên, bà tham gia 06 phần và đã góp họ được 19 lần số tiền là 22.800.000 đồng.
Dây họ thứ 05: Ngày 04/4/2020, dây họ là 300.000 đồng, kỳ mở họ một tuần 01 lần, có 22 thành viên, bà tham gia 02 phần và đã góp họ được 12 lần, số tiền thực góp 02 phần hụi là 4.800.000 đồng.
Dây họ thứ 06: Ngày 09/4/2020, dây họ là 2.000.000 đồng, kỳ mở họ một tháng 01 lần, có 16 thành viên, bà tham gia 01 phần và số tiền thực góp là 2.600.000 đồng.
Tổng cộng bà L nợ tiền họ chưa giao cho bà là 82.300.000 đồng.
Ngoài ra, bà nhận chuyển giao (mua) phần họ của người khác (tham gia các dây họ của bà L làm chủ), bà L trực tiếp chuyển giao cho bà, như sau:
Ngày 15/11/2019, nhận chuyển giao 01 phần họ, số tiền là 14.400.000 đồng.
Ngày 09/4/2020, nhận chuyển giao 01 phần họ, số tiền là 18.000.000 đồng.
Tổng cộng bà L nợ tiền họ do bà nhận chuyển giao là 32.400.000 đồng.
Về hợp đồng vay tài sản: Tháng 5/2020, bà cho bà L vay tiền là 30.000.000 đồng, không thỏa thuận việc trả tiền lãi.
Hợp đồng góp họ và vay tài sản hai bên chỉ thỏa thuận bằng lời nói, không có văn bản thỏa thuận cụ thể của những người tham gia, bà chỉ được chủ họ photo bản danh sách dây họ để tự theo dõi, việc góp họ, lĩnh họ cũng không có ký xác nhận; việc chuyển giao các phần họ không có giấy tờ để chứng minh; ngày giao dịch góp họ là ngày âm lịch.
Tháng 5/2020, bà L đứng ra tuyên bố chấm dứt tất cả các dây họ và cam kết trả tiền họ theo thỏa thuận cho bà nhưng bà L không thực hiện. Sau đó, bà làm đơn yêu cầu Ban lãnh đạo ấp C, xã H, huyện G hòa giải. Ngày 11/8/2020, Ban lãnh đạo ấp C, xã H lập biên bản hòa giải, bà L thừa nhận còn nợ bà toàn bộ khoản nợ nêu trên nhưng hai bên không thỏa thuận được thời gian trả nợ. Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà L phải trả cho bà tiền họ còn nợ tổng cộng là 114.700.000 đồng và tiền vay là 30.000.000 đồng, bà đồng ý để bà L trả dần trong vòng 06 tháng là dứt nợ, không đồng ý với đề nghị của bà L trả dần hàng tháng, mỗi tháng trả là 600.000 đồng.
Bà Trần Thị L là bị đơn trình bày:
Bà thừa nhận lời trình bày của bà T về hợp đồng dân sự góp họ, chuyển giao các phần họ và vay tài sản với bà T là đúng.
Tháng 5/2020, bà đứng ra tuyên bố chấm dứt tất cả các dây họ, do nhiều thành viên tham gia góp họ đã lĩnh họ nhưng không góp họ theo thỏa thuận.
Đối với yêu cầu của bà T, bà có ý kiến như sau: Bà thừa nhận còn nợ bà T tiền họ chưa giao là 82.300.000 đồng, tiền họ chuyển giao là 32.400.000 đồng và tiền vay là 30.000.000 đồng. Tổng cộng các khoản nợ là 144.700.000 đồng, bà đề nghị được trả dần khoản tiền nêu trên cho bà T, mỗi tháng trả là 600.000 đồng, trả cho đến khi dứt nợ, do hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhiều người khởi kiện nên bà không có khả năng thanh toán nợ theo yêu cầu của bà T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Bà Trần Thị T khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị L phải trả tiền họ (hụi), tiền vay còn nợ. Đây là tranh chấp hợp đồng dân sự góp họ (hụi) và vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Trần Thị L là bị đơn có nơi cư trú tại huyện G, tỉnh Kiên Giang. Căn vào khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
. Về nội dung vụ án:
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà T và bà L thống nhất xác định: Trong thời gian từ năm 2018 đến năm 2020, bà T có tham gia giao dịch dân sự góp họ (hụi) nhiều dây họ do bà L làm chủ, nhận chuyển giao các phần họ của người khác (do bà L trực tiếp chuyển giao và nhận tiền) và bà T cho bà L vay tiền. Bà L thừa nhận còn nợ bà T số tiền họ tổng cộng là 114.700.000 đồng và tiền vay là 30.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định việc hai bên tham gia giao dịch dân sự góp họ, vay tài sản với nhau là sự thật.
Hợp đồng dân sự góp họ là sự thỏa thuận của những người tham gia góp họ nhằm mục đích tương trợ trong Nhân dân; đối với hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, các bên phải thực hiện đúng về quyền và nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận và phù hợp với quy định của pháp luật. Cho nên, những người tham gia góp họ và vay tài sản phải thực hiện đúng về quyền và nghĩa vụ theo thỏa thuận và phải phù hợp với các quy định của pháp luật về hợp đồng dân sự góp họ, vay tài sản. Bà L thừa nhận nợ và cam kết trả nợ cho bà T nhưng không thực hiện là vi phạm Điều 463, Điều 466 và Điều 471 của Bộ luật Dân sự; vi phạm trách nhiệm của chủ họ do không giao các phần họ theo Điều 29 của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ và Điều 23 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T đối với bà L, buộc bà L phải có trách nhiệm trả cho bà T tiền họ còn thiếu tổng cộng là 114.700.000 đồng và tiền vay là 30.000.000 đồng.
Bà L nêu lên hoàn cảnh gia đình khó khăn và đề nghị trả dần khoản nợ nêu trên nhưng bà T không đồng ý sẽ được xem xét khi thi hành án.
. Về án phí:
Căn cứ khoản 5 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 - 9 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 2 của Luật Người cao tuổi.
Bà Trần Thị T, sinh năm: 1944 (trên 60 tuổi) có đơn đề nghị miễn nộp tạm ứng án phí, án phí hợp lệ và được Tòa án chấp nhận.
Bà Trần Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch đối với yêu cầu của bà T được chấp nhận là: 144.700.000 đồng x 5% = 7.235.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 5 Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Khoản 4 Điều 11, Điều 463, Điều 466 và Điều 471 của Bộ luật Dân sự;
Điều 29 của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;
Điều 23 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;
Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 - 9 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Điều 2 của Luật Người cao tuổi.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T về việc tranh chấp hợp đồng dân sự góp họ (hụi) và vay tài sản đối với bà Trần Thị L.
Buộc bà Trần Thị L phải có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị T các khoản tiền, cụ thể như sau:
Tiền họ (hụi) là 114.700.000 đồng (một trăm mười bốn triệu bảy trăm nghìn đồng) và tiền vay là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí:
Bà Trần Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.235.000 đồng (bảy triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn đồng).
3. Về quyền kháng cáo:
Bà Trần Thị T và bà Trần Thị L có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 25/02/2021).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện G; - Thi hành án huyện G; - UBND xã; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Danh Thanh Phát |