vanban.org

Bản án 20/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị T, buộc vợ chồng anh Đỗ Văn B và chị Nguyễn Thị T phải có trách nhiệm liên đới trả cho vợ chồng chị Bùi Thị T và anh Trần Trung Đ số tiền là: 56.000.000đ (Trong đó có 50.000.000đ tiền gốc và 6.000.000đ tiền lãi); Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án Xử:
  • Căn cứ chính? Điều 274 Bộ luật Dân sự; Điều 275 Bộ luật Dân sự; Điều 280 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HIỆP HÒA
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2021/DS-ST
Ngày: 21/7/2021.
V/v: Tranh chấp
hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hương Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Miện

Ông Bùi Thế Hanh

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc - Thư ký Toà án nhân

dân huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thúy - Kiểm sát viên

Trong ngày 21 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hiệp

Hòa, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 164/2020/TLST-DS, ngày 05 tháng 10 năm 2020 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 23/2021/QĐXXST-DS ngày 05/4/2021 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1982(Có mặt)

Địa chỉ: thôn Đại Mão, xã Đại Thành, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

*Đồng Bị đơn:

1. Anh Đỗ Đức B – sinh năm 1984 (Cómặt)

2. Chị Tạ Thị T – sinh năm 1988 (Có mặt)

Cùng địa chỉ: thôn Trung Hòa, xã Mai Trung, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc

Giang;

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

Anh Trần Trung Đ – sinh năm 1975(Vắng mặt)

Địa chỉ: thôn Đại Mão, xã Đại Thành, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang;

Anh Đ có đơn xin hòa giải và xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Chị Bùi Thị T trình bày: Chị Tạ Thị T trước đây là nhân viên trong cửa

hàng tóc của chị. Khi chị T có hỏi vay chị 50 triệu đồng để giải quyết công việc gia đình thì chị đã nhất trí. Ngày 19 tháng 8 năm 2018 (Âm lịch) - tức ngày 28/9/2018 (Dương lịch) chị T và chồng chị T là anh Đỗ Đức B đã đến nhà chị vay tiền và viết giấy “Biên nhận vay tiền” với nội dung vợ chồng chị T vay của chị 50 triệu đồng, không ghi hạn trả nợ và lãi suất thì hai bên ghi với nội dung là thỏa thuận chứ không ghi cụ thể phần trăm lãi suất vào hợp đồng vay tiền. Tuy nhiên, chị khẳng định lãi suất hai bên thỏa thuận là 2%/tháng, từ khi chị T và anh B vay tiền của chị thì vợ chồng anh B chưa trả cho chị được tháng tiền lãi nào. Khi chị có nhu cầu sử dụng đến tiền chị đã nhiều lần đòi vợ chồng anh B nhưng vợ chồng anh B không trả cho chị. Nay chị làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa buộc vợ chồng chị Tạ Thị T và anh Đỗ Đức B phải có trách nhiệm trả cho chị số tiền 50 triệu đồng cùng số tiền lãi là 2%/tháng thời gian từ khi vợ chồng anh B vay cho đến nay.

Tuy nhiên, tại phiên tòa chị T xin rút một phần yêu cầu khởi kiện của mình,

chị đề nghị Tòa án tính tiền lại theo lãi suất của ngân hàng nhà nước thì tính từ thời điểm anh B và chị T vay đến nay thì số tiền lãi là: 33 tháng 23 ngày x 375.000/tháng x 50.000.000đ = 12.375.000đ.

Anh Đỗ Đức B và chị Tạ Thị T cùng trình bày: Anh chị xác nhận mối quan

hệ quen biết giữa vợ chồng anh và chị Bùi Thị T như chị T trình bày như vậy là đúng. Khi vợ chồng anh có nhu cầu cần tiền chị T là vợ anh có hỏi vay chị T 50 triệu đồng và đã được chị T nhất trí. Vào buổi tối ngày 19/8/2018(ÂL) – tức ngày 28/9/2018(DL) vợ chồng anh đã đến nhà chị T để vay tiền và viết giấy vay tiền cho chị T với nội dung như giấy nhận nợ mà chị T đã cung cấp cho Tòa án là đúng. Tuy nhiên, sau đó chị T không có đủ tiền trong nhà nên chị T hẹn vợ chồng anh sáng ngày hôm sau đến lấy tiền. Sáng hôm sau chị T đi làm chỉ có một mình anh B đến nhà chị T để lấy tiền nhưng chị T vẫn chưa có đủ và cũng tại sáng hôm đó chị T có nói với anh B lãi suất là 3000đ/triệu/ngày, thấy vậy anh B không nhất trí vay nữa và đi về nhưng do anh sơ suất không yêu cầu chị T trả lại anh giấy vay tiền mà vợ chồng anh đã viết cho chị T trước đó. Nay chị T làm đơn khởi kiện vợ chồng anh phải có trách nhiệm trả cho chị T số tiền vay 50 triệu đồng cùng lãi suất anh không nhất trí vợ chồng anh chưa nhận tiền vì nếu nhận tiền thì phải có giấy nhận tiền nên anh B và chị T cùng có quan điểm không trả tiền cùng lãi suất như chị T yêu cầu.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Trần Trung Đ, trong biên

bản ghi lời khai trình bày: anh xác nhận số tiền chị T cho vợ chồng anh B và chị T vay là tiền của vợ chồng anh. Nay anh nhất trí với việc khởi kiện của chị T và anh yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng anh B, chị T phải có trách nhiệm trả cho vợ chồng anh số tiền gốc cùng lãi suất.

Tại phiên tòa, KSV phát biểu ý kiến và xác định về việc tuân theo pháp luật

tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, đối với nguyên đơn đã thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Đại diện VKS đề nghị HĐXX áp dụng:

Điều 274; 275;280; 463; 466; 469 và Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015.

Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 40; Điều 147;

Điều 227; Điều 271; Điều 273 BLTTDS.

Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án Xử:

Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị T, buộc anh Đỗ Đức B và chị Tạ Thị T phải có trách nhiệm liên đới trả cho chị T và anh Đ số tiền là: 56.000.000đ (Năm mươi sáu triệu đồng) (Trong đó số tiền gốc là: 50.000.000đ và số tiền lãi là: 6.000.000đ).

Về án phí: Anh B và chị T mỗi người phải có trách nhiệm liên đới chịu án phí DSST số tiền là: 2.800.000đ. Chị T không phải chịu án phí DSST hoàn trả lại cho chị T số tiền tạm ứng án phí DSST là: 750.000đ tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2018/0003892, ngày 05/10/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và thẩm tra chứng cứ tại

phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

.Về tố tụng: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị T HĐXX xác

định đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng vay tài sản được quy định tại Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa. Tại phiên tòa vắng mặt anh Trần Trung Đ(chồng chị T) nhưng anh Đ có đơn xin hòa giải và xét xử vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự HĐXX vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

. Xét đơn khởi kiện, các chứng cứ và lời trình bày của chị Bùi Thị T có

đủ cơ sở để xác định vợ chồng anh B và chị T có vay của chị T số tiền là 50triệu đồng vào ngày 19/8/2018(ÂL)- tức ngày 28/9/2018(DL) là đúng và cần buộc vợ chồng anh B, chị T phải có trách nhiệm trả chị T số tiền đã vay là đúng. Vợ chồng anh B và chị T tại phiên tòa sau khi nhận thức được các chứng cứ mà chị T cung cấp thì cùng xác nhận vào ngày 19/8/2018(ÂL)- tức ngày 28/9/2018(DL) vợ chồng anh có vay của chị T số tiền gốc là: 50triệu đồng và anh chị nhất trí trả cho chị T.

. Về yêu cầu tính lãi của chị T và việc chị T rút một phần yêu cầu khởi

kiện của mình là đề nghị HĐXX tính mức lãi để buộc vợ chồng anh B, chị T phải chịu là theo lãi suất của ngân hàng nhà nước. Việc rút yêu cầu khởi kiện của chị T là đúng theo quy định của pháp luật và vợ chồng anh B cũng không có ý kiến gì về yêu cầu này của chị T nên HĐXX xét thấy cần chấp nhận là có căn cứ. Tại phiên tòa vợ chồng anh B cùng có nguyện vọng xin chị T không tính lãi vì hiện tại vợ chồng anh đang khó khăn do dịch bệnh, công việc không ổn định. HĐXX xét thấy, hợp đồng vay tiền giữa chị T và vợ chồng anh B có ghi lãi suất là thỏa thuận nhưng không nêu cụ thể là bao nhiêu. Tại phiên tòa chị T đề nghị HĐXX tính theo lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước thì số tiền lãi anh B và chị T phải trả cho chị T là:

50.000.000đ x 0,75%/tháng x 33 tháng 23 ngày = 12.375.000đ.

Tuy nhiên, do anh B và chị T có nói đang khó khăn nên chị T tự nguyện

giảm cho vợ chồng anh B 6.375.000đ và chỉ yêu cầu vợ chồng anh B phải có trách nhiệm trả cho chị tất cả số tiền lãi là: 6000.000đ và không yêu cầu vợ chồng anh B phải trả thêm cho chị đồng tiền lãi nào nữa. Tại phiên tòa vợ chồng anh B cũng nhất trí với việc tính mức lãi suất mà chị T đưa ra và đồng ý với việc chị T giảm số tiền lãi cho vợ chồng anh. HĐXX xét thấy đây là sự tự nguyện của các đương sự nên cần chấp nhận là có căn cứ.

Về án phí: Anh Đỗ Văn B và chị Nguyễn Thị T phải có trách nhiệm liên

đới chịu án phí dân sự sơ thẩm. Chị Bùi Thị T và anh Trần Trung Đ không phải chịu án phí DSST. Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 274; 275;280; 463; 466; 469 Điều 470 Bộ luật dân sự năm

2015.

Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 40; Điều 147;

Điều 228; Điều 271; Điều 273 BLTTDS.

Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị T, buộc vợ chồng anh Đỗ Văn

B và chị Nguyễn Thị T phải có trách nhiệm liên đới trả cho vợ chồng chị Bùi Thị T và anh Trần Trung Đ số tiền là: 56.000.000đ (Trong đó có 50.000.000đ tiền gốc và 6.000.000đ tiền lãi);

Về án phí: Anh Đỗ Văn B và chị Tạ Thị T phải liên đới chịu 2.800.000đ phí

DSST. Chị Bùi Thị T và anh Trần Trung Đ không phải chịu án phí DSST, hoàn trả cho chị Bùi Thị T số tiền 750.000đ tiền tạm ứng án phí DSST tại biên lai thu số: AA/2018/0003892 ngày 05/10/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong,

bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận.

Báo cho đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể

từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày

được tống đạt bản án. Nơi nhận:

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện Hiệp Hòa;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Chi cục THA DS huyện HiệpHòa;

- Đương sự;

- Lưu.

HOÀNG THỊ HƯƠNG LAN HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA Lê Thanh Miện Bùi Thế Hanh

Hoàng Thị Hương Lan Nơi nhận:

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện Hiệp Hòa;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Chi cục THA DS huyện HiệpHòa;

- Đương sự;

- Lưu.

HOÀNG THỊ HƯƠNG LAN HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA Lê Thanh Miện Bùi Thế Hanh

Hoàng Thị Hương Lan

Cỡ chữ