- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng thương mại cổ phần A “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với ông Nguyễn Hoàng Ph."
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần A về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với ông Nguyễn Hoàng Ph.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN ́ HUYỆN BÊN LỨ C TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2021/DS-ST Ngày: 12-5-2021 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
́
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÊN LỨ C - TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Đông
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Hồng Điều
2. Ông Nguyễn Văn Cao
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lứ c, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lứ c, tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 261/2020/TLST-DS ngày 21/8/2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2021/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 02 năm 2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần A.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình L, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Địa chỉ trụ sở chính: Số 22, Ngô Q, Phường Tràng T, quận Hoàn K, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền:
1. Ông Lê Vĩnh Kh, sinh năm 1978; Chức vụ: Giám đốc quản lý khách hàng cá nhân Khu vực Đông Nam Bộ (vắng mặt);
2. Ông Nguyễn Nhật T, sinh năm 1990, chức vụ: chuyên viên (có mặt);
(theo văn bản ủy quyền số 1193/UQ-PVB ngày 05/3/2021).
Địa chỉ chi nhánh: Lầu 2, số 264E Lê Văn S, phường 14, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng Ph, sinh năm 1995 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp 3, xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 09/7/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Nhật T đại diện cho nguyên đơn trình bày như sau:
Ngày 10/9/2018, Ngân hàng thương mại cổ phần A (gọi tắt là Ngân hàng) và ông Nguyễn Hoàng Ph ký hợp đồng vay số 2109/2018/HĐTD/PVB-CN.GĐ-TTB ngày 10/9/2018 và khế ước nhận nợ ngày 10/9/2018. Nội dung hợp đồng thể hiện, Ngân hàng thỏa thuận cho Nguyễn Hoàng Ph vay số tiền 447.000.000đồng; mục đích vay thanh toán tiền mua xe Honda City; thời hạn vay 60 tháng từ ngày giải ngân; lãi suất các bên thỏa thuận: lãi suất trong hạn từ ngày 10/9/2018 đến ngày 09/9/2019 là 8,99%/năm; từ ngày 10/9/2019, lãi suất được điều chỉnh 03 tháng một lần, bằng LSTG13 + biên độ 4,5%/năm; lãi suất quá hạn bằng 150% lại suất trong hạn; lãi suất chậm trả 10%/năm.
Để bảo đảm khoản vay theo hợp đồng vay số 2109/2018/HĐTD/PVB-CN.GĐ-TTB ngày 10/9/2018, ông Nguyễn Hoàng Ph thế chấp tài sản của ông Ph là xe ô tô nhãn hiệu Honda, loại City 1.5V-CVT, màu sơn xanh đậm, số khung RLHGM6667JY803585, số máy L15Z12330175, biển số 62A-109.50, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 022821 do Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Long An cấp cho ông Nguyễn Hoàng Ph ngày 06/9/2018 theo hợp đồng thế chấp xe ô tô số 2109/2018/HĐBĐ/PVB-CN.GĐ-TTB ngày 10/9/2018. Ngày 10/9/2018, Ngân hàng đã giải ngân cho ông Ph nhận số tiền vay là 447.000.000đồng.
Quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 17/9/2020 ông Ph đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 81.950.000đồng, nợ lãi là 34.628.459đồng, tổng cộng là 116.578.459đồng. Từ ngày 18/9/2020, ông Ph đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng. Ngân hành đã nhiều lần thông báo cho ông Ph biết việc ông Ph vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng vay các bên đã ký kết nhưng ông Ph vẫn không trả nợ gốc và lãi theo yêu cầu của Ngân hàng.
Tại phiên tòa, ông Nguyễn Nhật T đại diện cho Ngân hàng vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Nguyễn Hoàng Ph phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần A số tiền nợ gốc là 365.050.000đồng và tiền nợ lãi là 93.546.666đồng (tính đến ngày 12/5/2021). Tổng cộng là 458.596.666đồng.
- Yêu cầu ông Nguyễn Hoàng Ph tiếp tục trả lãi theo hợp đồng vay các bên đã ký kết cho đến khi ông Ph thanh toán xong toàn bộ khoản nợ gốc và lãi cho Ngân hàng.
- Trường hợp ông Ph không trả cho Ngân hàng các khoản nợ trên thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát mãi tài sản của ông Ph theo hợp đồng thế chấp xe ô tô số: 2109/2018/HĐBĐ/PVB-GN.CĐ-TTB ngày 10/9/2018 để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Bến Lức căn cứ quy định tại Điều 196, Điều 199 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của tòa án gồm: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, ghi ý kiến của bị đơn ông Nguyễn Hoàng Ph đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Tuy nhiên, bị đơn ông Nguyễn Hoàng Ph cố tình vắng mặt và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo pháp luật tố tụng và các đương sự trong vụ án đã chấp hành pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung vụ án: Hợp đồng vay tài sản số 2109/2018/HĐTD/PVB-CN.GĐ-TTB ngày 10/9/2018 được xác lập giữa Ngân hàng với ông Ph trên cơ sở tự nguyện, có hình thức và nội dung phù hợp pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên đây là hợp đồng hợp pháp, làm căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Sau khi ký kết hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân và ông Ph đã ký tên vào khế ước nhận đủ số tiền vay là 447.000.000đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Ph đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 81.950.000đồng, nợ lãi là 34.628.459đồng, tổng cộng là 116.578.459đồng (tính đến ngày 17/9/2020). Thời gian sau đó, ông Ph đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Ph thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 365.050.000đồng và tiền nợ lãi là 93.546.666đồng (tính đến ngày 12/5/20210) phát sinh theo hợp đồng vay các bên đã ký kết là có căn cứ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng thương mại cổ phần A khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Hoàng Ph thanh toán cho Ngân hàng khoảng nợ theo hợp đồng vay được ký kết giữa Ngân hàng và ông Ph. Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn Nguyễn Hoàng Ph có hộ khẩu thường trú tại huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Căn cứ khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An có thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Về vắng mặt đương sự tại phiên tòa: Bị đơn ông Nguyễn Hoàng Ph đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn cố tình vắng mặt. Do đó, Tòa án căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Hoàng Ph.
Xét về nội dung tranh chấp:
Xét hình thức, nội dung hợp đồng: Hợp đồng vay số 2109/2018/HĐTD/PVB-CN.GĐ-TTB ngày 10/9/2018 được xác lập giữa Ngân hàng với ông Ph trên cơ sở tự nguyện, có nội dung phù hợp pháp luật, không trái đạo đức xã hội và hình thức phù hợp theo quy định tại Điều 405, Điều 406 của Bộ luật Dân sự nên Hội đồng xét xử xét thấy đây là hợp đồng hợp pháp, làm căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia giao kết hợp đồng.
Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thấy rằng:
Xét yêu cầu trả tiền nợ gốc của Ngân hàng thấy rằng:
Theo hợp đồng vay tài sản số 2109/2018/HĐTD/PVB-CN.GĐ-TTB ngày 10/9/2018, Ngân hàng cho ông Ph vay số tiền 447.000.000đồng, mục đích vay tiêu dùng, thời hạn vay 60 tháng từ ngày giải ngân, mục đích vay thanh toán tiền mua xe Honda City; lãi suất các bên thỏa thuận: lãi suất trong hạn từ ngày 10/9/2018 đến ngày 09/9/2019 là 8,99%/năm; từ ngày 10/9/2019, lãi suất được điều chỉnh 03 tháng một lần, bằng LSTG13 + biên độ 4,5%/năm; lãi suất quá hạn bằng 150% lại suất trong hạn; lãi suất chậm trả 10%/năm.
Quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 17/9/2020 ông Ph đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 81.950.000đồng, nợ lãi là 34.628.459đồng, tổng cộng là 116.578.459đồng. Số tiền còn lại, Ngân hàng đã thông báo đến ông Ph để thực hiện nghĩa vụ nhưng ông Ph vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, ông Ph đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để ông Ph đến Tòa án trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ nhằm bảo vệ quyền lợi của ông Ph đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nhưng ông Ph cố tình vắng mặt và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
Theo khế ước nhận nợ ngày 10/9/2018 mà Ngân hàng cung cấp cho Tòa án thể hiện, ông Ph đã ký nhận số tiền 447.000.000đồng theo hợp đồng vay số 2109/2018/HĐTD/PVB-CN.GĐ-TTB ngày 10/9/2018, tại mục bên vay có chữ ký và chữ viết mang tên Nguyễn Hoàng Ph. Tại bảng kê chi tiết gốc, lãi khách hàng Nguyễn Hoàng Ph thể hiện từ ngày 10/9/2018 đến ngày 17/9/2020 ông Ph đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 81.950.000đồng, nợ lãi là 34.628.459đồng, tổng cộng là 116.578.459 đồng. Kể từ ngày 18/9/2020 cho đến nay, ông Ph không thanh toán tiền nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng yêu cầu ông Ph trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 365.050.000đồng.
Xét yêu cầu tính lãi của Ngân hàng thấy rằng:
Hợp đồng vay số 2109/2018/HĐTD/PVB-CN.GĐ-TTB ngày 10/9/2018 được xác lập giữa Ngân hàng và ông Ph trên cơ sở tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật. Lãi suất cho vay, lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn do các bên tự nguyện thỏa thuận và phù hợp tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng. Tính đến ngày 17/9/2020 ông Ph đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ lãi là 34.628.459đồng. Ngân hàng khởi yêu cầu ông Ph tiếp tục trả lãi vay, lãi trong hạn, lãi quá hạn tính đến ngày 12/5/2021 là 93.546.666đồng theo hợp đồng vay các bên ký kết là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đồng thời, cần tiếp tục duy trì mức lãi suất cho vay, lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn theo hợp đồng vay được ký kết giữa Ngân hàng với ông Ph cho đến khi ông Ph thanh toán xong số tiền nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng.
Từ những phân tích tại mục [4.2.1] và [4.2.2], Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, cũng như chấp nhận ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Buộc ông Ph có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần A số tiền nợ gốc là 365.050.000đồng và tiền nợ lãi là 93.546.666đồng (tính đến ngày 12/5/2021), tổng cộng là 458.596.666đồng.
Đối với Hợp đồng thế chấp xe ô tô số: 2109/2018/HĐBĐ/PVB-CN.GĐ-TTB ngày 10/9/2018, thế chấp xe ô tô nhãn hiệu Honda, loại City 1.5V-CVT, màu sơn xanh đậm, số khung RLHGM6667JY803585, số máy L15Z12330175, biển số 62A-109.50, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 022821 do Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Long An cấp cho ông Nguyễn Hoàng Ph ngày 06/9/2018. Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản này để đảm bảo thu hồi nợ cho Ngân hàng theo hợp đồng vay tài sản số 2109/2018/HĐTD/PVB-CN.GĐ-TTB ngày 10/9/2018 trong trường hợp ông Ph không trả đầy đủ nợ gốc và lãi. Vì vậy, cần tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp xe ô tô số: 13124043/BLC/HĐTC/SP ngày 27/04/2017 để đảm bảo thi hành các khoản nợ của Ngân hàng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Hoàng Ph phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 405, Điều 406, Điều 463, 465, 466 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 90, 91 Luật Các tổ chức tín dụng;
Căn cứ Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần A về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với ông Nguyễn Hoàng Ph.
1. Buộc ông Nguyễn Hoàng Ph có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần A số tiền nợ gốc là 365.050.000đồng và tiền nợ lãi là 93.546.666đồng (tính đến ngày 12/5/2021), tổng cộng là 458.596.666đồng (bốn trăm năm mươi tám triệu, năm trăm chín mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi sáu đồng).
2. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày 13/5/2021 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng vay số 2109/2018/HĐTD/PVB-CN.GĐ-TTB ngày 10/9/2018.
Trường hợp ông Nguyễn Hoàng Ph không trả được tiền nợ gốc và tiền nợ lãi cho Ngân hàng thì Ngân hàng thương mại cổ phần A được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp xe ô tô số 2109/2018/HĐBĐ/PVB-CN.GĐ-TTB ngày 10/9/2018.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc ông Nguyễn Hoàng Ph phải chịu 22.643.866đồng (hai mươi hai triệu, sáu trăm bốn mươi ba nghìn, tám trăm sáu mươi sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần A số tiền 10.195.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 000.2281 ngày 19/8/2020 và số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 000.2282 ngày 19/8/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức.
4. Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo đối với bản án: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Long An. -VKSND huyện Bến Lứ c. -CCTHADS huyện Bến Lứ c. -Các đương sự. -Lưu HS-AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Nguyễn Đình Đông |