- Tranh chấp gì? án hình sự — "DANG VAN N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng V N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2020/HSST Ngày: 10-3-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Kim Hồng;
2. Bà Lê Thị Kim Em.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Tuyền - Kiểm sát viên
Ngày 10/3/2020 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Đặng V N, sinh năm 1991 tại Bến Tre; Giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 110/HB ấp X, xã N, huyện M, tỉnh B; chỗ ở: 502F3/15 TXS, khu phố 5, phường L, Quận S, Thành phố H; nghề nghiệp: làm bếp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 7/12; con ông Đặng V H sinh năm 196X, con bà Phạm T T sinh năm 196X; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: bản án số 29/2008/HSST ngày 20/02/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh L xử phạt 05 (năm) năm tù về tội Hiếp dâm trẻ em, chấp hành xong ngày 30/8/2010; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 25/11/2019 (Có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Ông Lâm C H, sinh năm 1998; địa chỉ: 502F3/15 TXS, khu phố 5, phường L, Quận X, Thành phố H. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 17 giờ ngày 16/9/2019, Đặng V N là nhân viên quán Ốc Trai, tại số 502F3/15 TXS, khu phố 5, phường L, Quận S, Thành phố H, thấy phòng trọ của ông Lâm C H kế quán, không có người ở nhà và khóa cửa ngoài, nên N đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. N lấy ghế leo lên tường mở la phong đột nhập vào phòng trọ của ông H , lục tủ quần áo lấy trộm của ông H gồm 01 nhẫn bằng vàng; 01 dây chuyền bằng vàng; 01 mặt dây chuyền bằng vàng; 01 lắc đeo tay bằng vàng. Sau khi lấy trộm tài sản, N bỏ trong túi quần rồi leo lối cũ về quán ốc cất giấu dưới gối nằm chỗ ngủ.
Đến 21 giờ ngày 16/9/2019, ông H về phòng trọ phát hiện bị mất trộm số tài sản, trình báo Công an.
Qua xác minh, Công an mời Đặng V N làm việc, N khai nhận hành vi phạm tội của mình và giao nộp lại số tài sản.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Lâm C H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số 33/CT – VKSQ7 ngày 10/02/2020 Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố bị cáo Đặng V N về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên xử bị cáo Đặng V N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Bị cáo khai nhận hành vi chiếm đoạt tài sản của mình phù hợp với nội dung vụ án được tóm tắt ở trên, không tự bào chữa, không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.
- Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;
- Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Quận 7, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa kết hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ, xét đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Đặng V N có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 nhẫn bằng vàng; 01 dây chuyền bằng vàng, 01 mặt dây chuyền bằng vàng, 01 lắc đeo tay bằng vàng của ông Lâm C H một cách trái pháp luật. Theo Kết luận giám định số 344 ngày 14/10/2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận 7 thì tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 13.737.735đ (mười ba triệu bảy trăm ba mươi bảy ngàn bảy trăm ba mươi lăm đồng). Hành vi này của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố là đúng người, đúng tội.
Xuất phát từ động cơ tham lam tư lợi, để có tiền cờ bạc bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi này là rất nghiêm trọng vì đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản sở hữu hợp pháp của công dân. Vì vậy, cần xét xử bằng mức án nghiêm khắc để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo có ông bà Ngoại là liệt sỹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Xử lý vật chứng vụ án:
01 nhẫn bằng vàng; 01 dây chuyền bằng vàng, 01 mặt dây chuyền bằng vàng, 01 lắc đeo tay bằng vàng, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả cho người bị hại ông Lâm C H, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại ông Lâm C H đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bị cáo bồi thường, tại phiên tòa hôm nay vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Đặng V N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Đặng V N 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 25/11/2019.
2. Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đối với bị hại ông Lâm C H vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Tp HCM; - VKSND Quận 7; - Công an Quận 7; - Chi cục THADS Quận 7; - Sở Tư pháp Tp HCM; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu sổ án; - Lưu hồ sơ. (Tk. Trang ) | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Ngọc Phương |