- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sư sơ thẩm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Xuân Hạnh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA Tỉnh Thanh Hóa | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2020/HSST Ngày 27/03/2020. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trịnh Thị Loan
Bà Trương Thị Nga
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thu Hằng - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 15/2020/HSST ngày 02 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2020/QĐXX-HS ngày 16 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:
Lê Xuân H - Sinh ngày 10/10/1985. Tại: thôn Đ, xã Hoằng T, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Trú tại: thôn Đ, xã Hoằng T, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; Con ông Lê Xuân Hân và bà Lê Thị Thiệu; Vợ, con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
2.2 Người bị hại: - Anh Nguyễn Văn Dương, sinh năm 1988. Vắng mặt
Địa chỉ: thôn Đ, xã Hoằng T, h. Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19h ngày 04/12/2019 Lê Xuân H điều khiển xe moto BKS 36R3 - 4418 đi từ hướng Hoằng Thanh về xã Hoằng Thịnh, khi đi đến khu vực giáp ranh giữa xã Hoằng Vinh và xã Hoằng Đồng thì xe bị thủng săm nên H dắt bộ đến quán sửa xe máy của anh Nguyễn Văn Dương để sửa xe. Lúc vào quán sửa xe H nhìn thấy anh Dương tay cầm điện thoại di động SamSung Galaxy M20 đang nằm tên ghế gấp trong quán. H gọi anh Dương để sửa xe. Thấy có khách sửa xe anh Dương để chiếc điện thoại trên ghế gấp rồi ra ngoài sửa xe cho H. Lúc anh Dương đang sửa xe H nhìn thấy chiếc điện thoại SamSung – Galaxy M20 màu đen của anh Dương để trên ghế gấp ở giữa quán nên nảy sinh ý định trộm cắp. Quan sát thấy anh Dương đang tập trung sửa xe máy không để ý, H lén lút lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi áo ấm H đang mặc và đi ra khỏi quán tắt nguồn điện thoại. Sau đó H đi bộ đến khu vực bụi chuối phía trong tường rào sau nhà ông Nguyễn Danh Toàn cách nhà anh Dương khoảng 200m cất dấu rồi quay trở lại quán sửa xe của anh Dương. Sau khi sửa xong xe máy anh Dương phát hiện điện thoại đã bị mất, không thấy Hạnh trong quán nên nghi ngờ H đã lấy cắp. Khi H quay lại anh Dương hỏi H không nhận đã lấy điện thoại. Do không đủ tiền nên H để lại xe, thẻ căn cước rồi đi bộ về, anh Dương vẫn nghi ngờ H trộm cắp điện thoại nên đi theo H. Khi H đi đến khu vực cất dấu điện thoại H đứng lại quan sát xung quanh, anh Dương nghi ngờ nên đã yêu cầu H về Công an xã để làm việc. Tại Ban công an xã Hoằng Đồng, H vẫn không nhận việc trộm cắp đến khi anh Dương tìm được chiếc điện thoại SamSung Galaxy – M20 màu đen của mình nơi H cất dấu tại chân tường phía sau nhà ông Toàn, Lê Xuân H mới thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp của mình.
T¹i kÕt luËn ®Þnh gi¸ tµi s¶n trong tè tông h×nh sù sè: 55/H§§G - HH ngµy 09/12/2019 cña Héi ®ång ®Þnh gi¸ tµi s¶n trong tè tông h×nh sù huyÖn Ho»ng Hãa kÕt luËn: 01 điện thoại SamSung Galaxy M20 màu đen đã qua sử dụng có giá trị = 2.5000.000đ ( Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Sau khi định giá tài sản cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu.
- Tại bản cáo trạng số 26/CTr - VKSHH ngày 26 tháng 02 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa đã truy tố bị cáo Lê Xuân Hvề tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Xuân H. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 60 Bộ luật hình sự, xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” với mức hình phạt đối với Lê Xuân H từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Về dân sự: Người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu, nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo Lê Xuân H trình bày: Bị cáo thấy được lỗi lầm của mình chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hoằng Hóa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với hành vi của bị cáo Lê Xuân H lợi dụng anh Dương đang sửa xe không có người trông coi nên bị cáo lén lút trộm cắp 01 điện thoại SamSung Galaxy M20 màu đen. Tổng tài sản trộm cắp trị giá 2.500.000đồng( Hai triệu năm trăm ngàn đồng). Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai có trong tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đủ cơ sở kết luận hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo Lê Xuân H đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm của tội “ Trộm cắp tài sản”, tội phạm, hình phạt được quy định và trừng trị tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi: Hành vi của bị cáo Lê Xuân H đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật đồng thời gây mất an ninh trật tự taị địa phương. Vì vậy, cần có một hình phạt tương xứng đối với mức độ nguy hiểm mà bị cáo gây ra và sau khi phạm tội bị cáo đã trả lại chiếc điện thoại cho bị hại, do đó không cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mà cho bị cáo một mức án giáo dục tại địa phương để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo.Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự quy định người phạm tội ngoài hình phạt chính có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền từ năm triệu đến năm mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về phần dân sự: Tài sản đã trả lại cho bị hại nên bị hại không yêu cầu gì. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Attila Victoria màu đen đã qua sử dụng BKS 36R3 – 4418; Số khung RLGKA12DAD023113, số máy VMVT3BD023113 là bị cáo mua của người không quen biết dùng làm phương tiện đi lại. Qua tra cứu chiếc xe không phải là xe vật chứng, do đó trả lại chiếc xe cho bị cáo; 01 chiếc điện thoại di động Nokia 105 đã qua sử dụng, số IMEI:355763103780544 không phải là phương tiện phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Xuân Hạnh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Xuân H: 12(Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trong thời gian thử thách giao bị cáo Lê Xuân H cho Uỷ ban nhân dân xã Hoằng Thịnh, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa để giám sát và giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Lê Xuân H cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Attila Victoria màu đen đã qua sử dụng BKS 36R3 – 4418; Số khung RLGKA12DAD023113, số máy VMVT3BD023113; 01 chiếc điện thoại di động Nokia 105 đã qua sử dụng, số IMEI:355763103780544 cho bị cáo Lê Xuân H. Theo biên bản giao nhận vật chứng số 34 /BBGN ngày 26/3/2020 tại Chi cục THADS huyện Hoằng Hóa.
Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên bị cáo H được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: -VKSND h.Hoằng Hóa; -TAND tỉnh Thanh Hóa; -Chi cục THADS h.Hoằng Hóa; -Công an h.Hoằng Hóa; -TAND tỉnh Thanh Hóa; -Bị cáo; - Người bị hại; -UBND xã; Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Phƣơng |