vanban.org

Bản án 20/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 25/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ khoản 1 điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm a Khoản 1 Điều 55; Khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phạm tội “ Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh H 09 (chín) tháng tù, tổng hợp hình phạt 06 (sáu) tháng tù của bản án số 27/2020/HSST ngày 03/3/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 1… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án HSST bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ khoản 1 điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm a Khoản 1 Điều 55; Khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM KHÊ
TỈNH PHÚ THỌ
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2020/HS-ST
Ngày: 25 - 6 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thanh Loan

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Việt Tú

2/ Bà Hà Thị Hải

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Đỗ Trọng Tú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2020, tại Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20 ngày 14/5/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2020/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2020/QĐST – HS ngày 03/6/2020 đối với bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Thị Thanh H - Sinh năm 1992. Tên gọi khác: không

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu 2, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Giới tính: Nữ

Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Bố đẻ: Nguyễn Văn H (đã chết). Mẹ đẻ: Hoàng Thị N (đã chết)

Chồng: chưa có. Bị cáo có 01 con sinh năm 2016

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại Bản án số 27/2020/HSST ngày 03/3/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì đã xử phạt Nguyễn Thị Thanh H 06 tháng tù về tội ”Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo đang chấp hành bản án số 27/2020/HSST ngày 03/3/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì tại Trại giam Tân Lập, chuyển tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Phú Thọ ngày 18/6/2020. (Có mặt tại phiên tòa)

+ Người bào chữa cho bị cáo H: Bà Phạm Thị T - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Phú Thọ.

Người bị hại: Chị Nguyễn Thị Kiều O, Sinh năm 1985

Địa chỉ: Khu 11, xã N, huyện C, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Tiến D, Sinh năm 1989

Địa chỉ: Khu 1 Dư Ba, xã Tuy Lộc, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 07/12/2019, Nguyễn Thị Thanh H - sinh năm 1992, ở khu 2, xã T, huyện C bế theo cháu Nguyễn Ngọc T – sinh năm 2016 (con gái của H) đi bộ đến cửa hàng bán văn phòng phẩm của chị Nguyễn Thị Kiều O – sinh năm 1985 ở khu 11, xã N, huyện C để gói quà sinh nhật. Khi đến nơi, H thấy cửa hàng mở cửa và không có ai ở trong nhà. H đi vào cửa hàng, để con xuống nền nhà và gọi “Chị ơi, cho em gói quà sinh nhật” nhưng không thấy ai trả lời. H quay ra về thì nhìn thấy 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tím trắng, đã cũ, màn hình cảm ứng, có vỏ ốp bằng nhựa hình con mèo có trị giá: 6.500.000đ (sáu triệu năm trăm nghìn đồng) của chị Nguyễn Thị Kiều O để ở trên mặt tủ kính ở gần cửa ra vào. H quan sát thấy xung quanh không có ai ở nhà nên đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại trên. H dùng tay phải cầm chiếc điện thoại, rồi kẹp vào nách bên trái. Sau đó H bế con bằng tay phải, nhanh chóng rời khỏi quán và đi bộ về nhà theo hướng từ xã N đi xã T. Khi đi được khoảng 100-200m, H dừng lại kiểm tra điện thoại thì thấy máy có cài đặt mật khẩu, do không mở được nên H đã tắt nguồn điện thoại và đi thẳng về nhà. Về đến nhà, H nhờ bà Trần Thị T – sinh năm 1957 ở khu 2, xã T, huyện C trông con hộ, H không nói với bà Thuận về việc vừa trộm cắp được chiếc điện thoại trên. H mang theo chiếc điện thoại và 01 chiếc tăm đi bộ đến cầu T thuộc khu 1, xã T. H đi đến gần giữa cầu, rồi dùng tăm cạy, tháo khay đựng sim của chiếc điện thoại ra thì thấy có 02 thẻ sim. H cho 02 thẻ sim vào mồm nhai nát rồi vứt 02 thẻ sim đó cùng 01 chiếc vỏ ốp hình con mèo của chiếc điện thoại xuống dòng nước chảy dưới cầu T. Sau đó, H đem chiếc điện thoại đến cửa hàng sửa chữa điện thoại của anh Hoàng Tiến D – sinh năm 1989 ở khu 1 D, xã T, huyện C để nhờ phá mật khẩu điện thoại. H nói dối với anh D là do cài đặt mật khẩu nhiều quá nên máy bị khóa không mở được, H không nói với anh D đây là chiếc điện thoại H trộm cắp mà có. Anh D đồng ý phá mật khẩu điện thoại cho H với giá 100.000đ và hẹn H ngày 08/12/2019 đến lấy điện thoại, H đồng ý.

Đối với chị O sau khi phát hiện bị mất chiếc điện thoại trên đã nhờ người quen, bạn bè tìm kiếm chiếc điện thoại. Đến khoảng 17 giờ ngày 07/12/2019, chị O được anh Nguyễn Mạnh H – sinh năm 1980 ở xã P (nay là xã M), huyện C báo tin là ở cửa hàng sửa chữa điện thoại của anh D có một chiếc điện thoại giống của mình. Chị O đã đi cùng anh H đến cửa hàng của anh D để xác nhận thì đã mở được mật khẩu của chiếc điện thoại và thấy đúng là chiếc điện thoại bị trộm cắp của chị. Chị O vẫn để lại chiếc điện thoại ở cửa hàng nhà anh D để xem người trộm cắp chiếc điện thoại của chị là ai. Đến khoảng 15 giờ ngày 08/12/2019, H gọi điện thoại cho anh D để hỏi đã phá được mật khẩu điện thoại chưa thì anh D nói với H chiếc điện thoại đã có người nhận và mở được mật khẩu rồi. H hỏi lại “Điện thoại đó là của em, sao lại mở được?” rồi tắt máy. Do sợ hành vi trộm cắp bị phát hiện nên H không đến của hàng của anh D để lấy điện thoại nữa. Đối với chị O, sau đó đã làm đơn trình báo sự việc đến Công an huyện Cẩm Khê đề nghị giải quyết.

Cùng ngày, anh Hoàng Tiến D đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra: 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO F11 Pro, màu tím trắng, đã cũ.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 66 ngày 10/12/2019, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cẩm Khê kết luận: Một chiếc điện thoại OPPO F11 Pro, màu tím trắng, đã cũ trị giá 6.500.000đ (sáu triệu năm trăm nghìn đồng).

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thanh H khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của chị Nguyễn Thị Kiều O 01 chiếc điện thoại di động có đặc điểm như trên.

Bản cáo trạng số 21/CT-VKSCK -HS ngày 05/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự; Tại phiên tòa hôm nay Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1, 2 điều 51; Điều 38; Điều 55; Khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh H từ 09 tháng đến 12 tháng tù, tổng hợp hình phạt 06 (sáu) tháng tù của bản án số 27/2020/HSST ngày 03/3/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 18/6/2020. Bị cáo được trừ thời gian đã thi hành án phạt tù của bản án HSST số 27/2020/HSST ngày 03/3/2020 của TAND thành phố Việt Trì từ ngày 28/4/2020 đến ngày 17/6/2020

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xác nhận cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Khê đã trả lại tài sản cho chị Nguyễn Thị Kiều O gồm 01 chiếc điện thoại OPPO F11 Pro, màu tím trắng, đã cũ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bà Phạm Thị T- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh H: Thống nhất với nội dung bản cáo trạng của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi trộm cắp tài sản của chị O. Bị cáo H có hoàn cảnh khó khăn, mồ côi cha mẹ từ nhỏ, không có điều kiện học hành. Bị cáo hiện phải nuôi con nhỏ. Người bị hại có quan điểm xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, đề nghị HĐXX xem xét áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo H mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt tại điều luật cho bị cáo, tạo điều kiện để bị cáo H cải tạo và sớm trở về hòa nhập cộng đồng, xã hội.

Lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung:

+ Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị Thanh H đã thừa nhận, ngày 07/12/2019, tại cửa hàng nhà chị O ở khu 11, xã N, huyện C, tỉnh Phú Thọ, H có hành vi trộm cắp của chị O 01 chiếc điện thoại OPPO F11 Pro, màu tím trắng, đã cũ. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai mà bị cáo khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng; phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phạm tội “ Trộm cắp tài sản”, được quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự;

+ Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ

Xét tính chất vụ án tuy là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đã ngang nhiên xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo đã gây hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân, xâm phạm đến an ninh, trật tự an toàn xã hội. Vì vậy vụ án cần phải đưa ra xét xử kịp thời và nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật, có điều kiện để nhận thức về pháp luật, có sức khỏe và hiểu biết xã hội. Bị cáo không có tiền án, tiền sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng nào nhưng có nhân thân xấu. Ngày 12/10/2019, bị cáo có hành vi trộm cắp tài sản, bị cơ quan điều tra Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Trong giai đoạn điều tra, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú lại tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản của chị O. Điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo, vì vậy cần xử phạt đối với bị cáo nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội và buộc phải chấp hành hình phạt tù mới đảm bảo răn đe, cải tạo đối với bị cáo. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Người bị hại là chị O có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 điều Bộ luật hình sự.

Theo quy định tại khoản 5 điều 173 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”. Qua xác minh, bị cáo không có tài sản riêng, hiện đang ở chung với gia đình anh trai, bố mẹ bị cáo đã chết. Vì vậy xét nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Đối với anh Hoàng Tiến D: anh D đã nhận phá mật khẩu điện thoại cho H nhưng không biết chiếc điện thoại đó do H trộm cắp nên cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

[3]. Về vật chứng và trách nhiệm dân sự:

- Đối với vật chứng là 01 chiếc điện thoại OPPO F11 Pro, màu tím trắng, đã cũ là tài sản của chị Nguyễn Thị Kiều O, Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Khê đã trả lại cho chị O là phù hợp cần được xác nhận.

- Đối với 02 chiếc sim điện thoại và 01 vỏ ốp điện thoại của chị O mà H đã ném xuống dòng nước chảy tại khu vực cầu T, cơ quan điều tra đã rà soát nhưng không tìm thấy; chị O không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Bị cáo H thuê anh D mở mật khẩu điện thoại với giá 100.000đ. H chưa trả khoản tiền này cho anh D và anh D cũng không yêu cầu bị cáo phải thanh toán nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[4]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 1 điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm a Khoản 1 Điều 55; Khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh H 09 (chín) tháng tù, tổng hợp hình phạt 06 (sáu) tháng tù của bản án số 27/2020/HSST ngày 03/3/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 15 (mười lăm) tháng tù (Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ (kể từ ngày 12/10/2019 đến ngày 18/10/2019) và thời gian đã chấp hành bản án số 27/2020/HSST ngày 03/3/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ từ ngày 28/4/2020 đến ngày 17/6/2020). Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giam ngày 18/6/2020.

[2] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xác nhận ngày 08/12/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Khê đã trả cho chị Nguyễn Thị Kiều O 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO F11 Pro, màu tím trắng, đã cũ (thu giữ từ Hoàng Tiến D) theo biên bản giao trả tài sản là hợp pháp.

[3] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ