vanban.org

Bản án 20/2020/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Kiên Giang Tuyên án 25/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Võ Thị T phạm tội: “Vận chuyển hàng cấm”.

Xử Phạt: Bị cáo Võ Thị T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân bị cáo bị bệnh nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Thị T - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Thị T phạm tội: “Vận chuyển hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒN ĐẤT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 20/2020/HS-ST
Ngày: 25/6/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT – KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Quốc Chiến

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Phƣớc

Bà Phạm Hồng Gái

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất tham gia phiên tòa: Ông Lƣơng Thành Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2020. Tại trụ sở TAND huyện Hòn Đất, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2020/QĐXXST-HS ngày 02/6/2020 đối với bị cáo:

Võ Thị T – Sinh ngày 05/7/1964.

Nơi ĐKHKTT: Tố 5 ấp T, xã M, huyện H, tỉnh K.

Chổ ở hiện nay: Tố 5 ấp T, xã M, huyện H, tỉnh K.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh;

Tôn Giáo: Không

Trình độ văn hóa: Lớp 12/12;

Nghề nghiệp: Làm Tê

Họ tên cha: Võ Đình T (Đã chết)

Họ tên mẹ: Nguyễn Thị N (Đã chết)

Anh (chị) em ruột: gồm 5 người, lớn nhất - 1948, nhỏ nhất – 1966, bị cáo là người con thứ 4 trong gia đình.

Họ tên chồng: Trần Văn B – 1962; Nghề nghiệp: Làm Tê

Con: 02 người, lớn sinh năm 1990 và nhỏ sinh năm 1992.

Tiền án: Không

Tiền sự: Ngày 20/01/2017 bị Công an huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang xử phạt hành chính 10.000.000đ và tịch T 100 bao Tốc lá điếu hiệu hero về hành vi vận chuyển hàng cấm. (Bị cáo chưa nộp phạt)

Ngày 01/02/2019 bị Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt hành chính 85.000.000đ, về hành vi vận chuyển hàng cấm, tịch T 01 xe mô tô biển số: 68T7 – 1885 và 520 bao Tốc lá điếu nhập lậu. ( Bị cáo chưa nộp phạt )

Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/3/2020 cho đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người làm chứng: Ông Vũ Văn C, sinh năm 1988 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Số 8, xã S, huyện H, tỉnh K

Người biết sự việc: Ông Trần Văn B, sinh năm 1961 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện H, tỉnh K.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 03/02/2020 Võ Thị T cùng chồng là ông Trần Văn B chạy 2 xe mô tô đi chùa Thạch Động thuộc phường Mỹ Đức, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Sau khi cúng chùa xong ông B chạy xe chở đứa cháu tên Cao Thái B – 7 tuổi về trước còn T chạy về sau, T đi xuống bãi giữ xe định lấy xe chạy về thì gặp 01 người phụ nữ tên X (Không rỏ họ tên, địa chỉ cụ thể) hỏi T có vận chuyển thuê thuốc lá về thành phố Rạch Giá không? qua trao đổi T đồng ý vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu về thành phố Rạch Giá với tiền công là 200.000đ (Khi giao thuốc mới nhận tiền) T vận chuyểnthuốc lá điếu nhập lậu trên Quốc lộ 80 về đến khu vực ấp số 8, xã Sơn Kiên, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang thì bị lực lượng công an huyện Hòn Đất kiểm tra bắt quả tang.

Tang vật T giữ gồm: 300 bao thuốc lá điếu hiệu Hero, 50 bao thuốc lá điếu hiệu Jet; 01 xe mô tô hiệu ATTILA màu đỏ, biển số 68D1-081.60 là phương tiện vận chuyển hành cấm.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 300 bao thuốc lá điếu hiệu Hero, 50 bao thuốc lá điếu hiệu Jet, tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô hiệu ATTILA màu đỏ, biển số 68D1-081.60 là phương tiện vận chuyển hành cấm.

Tình tiết tăng nặng: không có

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thể hiện thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải.

Tại bản cáo trạng số: 19/CT-VKS-HĐ ngày 15/5/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất đã truy tố bị cáo: Võ Thị T về tội: “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại khỏan e khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Võ Thị T về tội danh và điều luật nêu trên và sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm e khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo Võ Thị T mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tuyên tịch thu tiêu hủy 300 bao thuốc lá điếu hiệu Hero, 50 bao thuốc lá điếu hiệu Jet; Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô hiệu ATTILA màu đỏ, biển số 68D1-081.60 là phương tiện vận chuyển hàng cấm.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân bị cáo bị bệnh nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.

Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bị cáo ăn ăn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo chữa bệnh và đi làm nuôi gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất và Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, do đó có đầy đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 17giờ ngày 03/02/2020, tại tổ 3 ấp Số 8, xã Sơn Kiên, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, Võ Thị T đã có hành vi vận chuyển hàng cấm là Tốc lá điếu nhập lậu với số lượng 300 bao thuốc lá điếu hiệu Hero và 50 bao thuốc là điếu hiệu Jet. Tuy chưa đủ định lượng để xử lý hình sự nhưng T đã có 2 tiền sự về hành vi vận chuyển hàng cấm chưa được xóa án tích nay tiếp tục vi phạm. Vậy hành vi của bị cáo Võ Thị T đã phạm vào tội: “Vận chuyển hành cấm” được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Như kết luận của Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là ít nghiêm trọng. Bị cáo đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “vận chuyển hành cấm” là thuốc lá điếu nhập lậu nên bị cáo phải nhận thức được rằng vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ ham lợi, muốn có tiền T nhập cao nên bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật sa vào con đường phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số hàng cấm mà còn gây mất tình hình an ninh trật tự tại địa phương do đó cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm nhằm cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, biết tuân thủ pháp luật qua đó cũng nhằm mục đích răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hành vi phạm tội của bị cáo bị phát hiện ngăn chặn kịp thời nên chưa gây hậu quả, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra, gia đình bị cáo là gia đình chính sách có cha ruột được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương, bằng khe, bản thân bị cáo đang bị bệnh thần kinh tọa, tăng huyết áp, rối loạn Lipit máu, bệnh tim thiếu máu cục bộ đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo có tình tiết phạm tội nhiều lần là tình tiết định khung hình phạt.

Xét thấy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 để xem xét mức án cho bị cáo khi lượng hình.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét về nhân thân: Bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu. Bị cáo có 02 tiền sự về tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Ngày 20/01/2017 bị Công an huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang xử phạt hành chính 10.000.000đ và tịch T 100 bao Tốc lá điếu hiệu hero về hành vi vận chuyển hàng cấm. (Bị cáo chưa nộp phạt).

Ngày 01/02/2019 bị Ủy ban nhân dân tình Kiên Giang xử phạt hành chính 85.000.000đ, về hành vi vận chuyển hàng cấm, tịch T 01 xe mô tô biển số: 68T7 – 1885 và 520 bao Tốc lá điếu nhập lậu. (Bị cáo chưa nộp phạt).

Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét về nhân thân của bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân bị cáo bị bệnh nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 300 bao thuốc lá điếu hiệu Hero, 50 bao thuốc lá điếu hiệu Jet; Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô hiệu ATTILA màu đỏ, biển số 68D1-081.60 là phương tiện vận chuyển hành cấm.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Võ Thị T phải chịu án hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Võ Thị T phạm tội: “Vận chuyển hàng cấm”.

Xử Phạt: Bị cáo Võ Thị T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân bị cáo bị bệnh nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 300 bao thuốc lá điếu hiệu Hero, 50 bao thuốc lá điếu hiệu Jet.

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô hiệu ATTILA màu đỏ, biển số 68D1-081.60 là phương tiện vận chuyển hành cấm.

Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Võ Thị T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ