vanban.org

Bản án 20/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Tuyên án 23/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo 12 (mười hai) tháng tù.

Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Phạm Văn Q phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hì… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Q - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo 12 (mười hai) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2020/HS-ST
Ngày 23-4-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Ngô Thị Hòe.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Chinh;

Ông Bùi Văn Bình.

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Xuyến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Long - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2020/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2020/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2020/HS-QĐ ngày 07-4-2020 đối với bị cáo:

Phạm Văn Q, sinh năm 1966; nơi cư trú: Tổ dân phố Cồn Tàu Tây, thị trấn QL, huyện GT, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 2/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Minh, sinh năm 1948 là liệt sỹ và bà Phạm Thị Quế, sinh năm 1946 (đã chết); bị cáo là con duy nhất trong gia đình; có vợ là Cao Thị Tuyến, sinh năm 1965; bị cáo có 2 con: Con lớn sinh năm 1988, con nhỏ sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

- Bị hại: Chị Phan Thị A, sinh năm 1988; địa chỉ: Xóm 16, xã BH, huyện GT, tỉnh Nam Định.

- Người làm chứng:

+ Chị Vũ Thị Th, sinh năm 1972; địa chỉ: Xóm 6, xã GT, huyện GT, tỉnh Nam Định.

+ Anh Phạm Văn Qu, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ dân phố Cồn Tàu Tây, thị trấn QL, huyện GT, tỉnh Nam Định;

+ Ông Phan Văn H, sinh năm 1959; địa chỉ: Xóm 16, xã BH, huyện GT, tỉnh Nam Định.

(Có mặt bị cáo; vắng mặt bị hại và những người làm chứng)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trưa ngày 26-12-2019, chị Phan Thị A gọi điện thoại rủ chị Vũ Thị Th đến Công an huyện Hải Hậu thăm người thân đang bị tạm giữ. Do không có phương tiện, chị Th gọi điện thoại cho Phan Văn Q làm nghề xe ôm đến chở. Khoảng 15 giờ cùng ngày, Q điều khiển xe mô tô Sirius màu đỏ, BKS 18P2-1372 chở chị Th; chị A điều khiển xe mô tô Vision màu bạc, BKS 18G1-200.33 cùng đến trụ sở Công an huyện Hải Hậu. Khi đến nơi, Q và chị A đều dựng xe ở góc sân phía tây (gần cổng) Công an huyện Hải Hậu. Q quan sát thấy chị A lấy một số tiền trong túi ví có dây đeo màu vàng, sau đó cất túi vào trong cốp xe Vision của chị A. Khi chị Th và A đi vào phía trong để gặp người thân, Q ngồi chờ tại bãi đậu xe và nảy sinh ý định trộm cắp tiền trong ví để trong cốp xe của chị A. Q dùng tay phải nâng yên xe phía bên trái, dùng tay trái lấy chiếc túi ví ra khỏi cốp xe giấu vào trong người. Sau đó, Q điều khiển xe mô tô của mình đến gần khu vực cầu Yên Định giấu chiếc túi ví vừa trộm cắp được vào trong cốp xe của mình rồi quay lại trụ sở Công an huyện tiếp tục chờ chị Th, chị A. Về đến nhà, Q không kiểm tra mà cất giấu túi ví vào trong tủ kinh của gia đình, chị Phan Thị A mở cốp xe mới phát hiện bị mất tài sản nên điện thoại cho chị Th để hỏi, chị Th gọi điện hỏi Q nhưng Q không thừa nhận. Do ông Phan Văn H là bố đẻ chị A gọi điện thoại động viên nên chiều ngày 27-12-2019, Q nhờ chị Th dẫn đến nhà ông H để trả chiếc túi ví cùng số tiền 16.250.000đ và 03 chiếc thẻ ngân hàng Agribank cho chị A.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐG ngày 12-02-2020, Hội đồng định giá tài sản huyện Hải Hậu kết luận: 01 chiếc túi ví giả da màu vàng, kích thước (15x15x10)cm trị giá 200.000đ. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc túi ví cùng số tiền 16.250.000đ và 03 chiếc thẻ ngân hàng Agribank cho chị A. Sau khi nhận lại tài sản, chị A không đề nghị gì về phần dân sự.

Cáo trạng số 17/CT-VKS-HH ngày 12-3-2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố Phạm Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thành khẩn khai nhận đã thực hiện hành vi đúng như nội dung vụ án đã nêu trên; bị hại công nhận đã nhận tài sản, không yêu cầu bồi thường dân sự, cin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Hả i Hậ u thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm x, s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn Q từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Tranh luận tại phiên tòa: Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận.

Nói lời sau cùng, bị cáo ăn năn, hối lỗi, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo Phạm Văn Q tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; biên bản định giá tài sản; lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút gày 26-12-2019, tại sân trụ sở Công an huyện Hải Hậu, Phạm Văn Q đã lén lút cậy yên xe mô tô hiệu Vision màu bạc BKS 18G1-200.33 của chị Phạm Thị A lấy 01 túi ví trị giá 200.000đ, bên trong có số tiền 16.250.000đ và 03 chiếc thẻ Ngân hàng Agribank không có tiền trong tài khoản. Tổng trị giá tài sản Q trộm cắp của chị A là 16.450.000đ.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện đến cùng. Việc chiếm đoạt tài sản của người khác tại trụ sở Công an huyện Hải Hậu thể hiện sự liều lĩnh của bị cáo.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Phạm Văn Q chưa có tiền án, tiền sự. Trong vụ án này, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Mặc dù bị cáo phạm tội lần đầu nhưng xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện và yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm, đặc biệt đối với những trường hợp thực hiện hành vi phạm tội ngay tại trụ sở cơ quan công quyền nên Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” đối với bị cáo. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải; bố đẻ bị cáo là liệt sỹ nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm x, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy: Mặc dù bị cáo đã trưởng thành, đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng vì lòng tham, sự liều lĩnh, bị cáo thực hiện hành vi lén lút lấy tài sản của người khác ngay tại sân trụ sở Công an huyện; số tiền bị cáo lấy được của bị hại tương đối lớn (16.450.000đ) nên cần phải xử lý nghiêm để phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo làm nghề xe ôm, thu nhập không ổn định, gia đình có H cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã thu hồi chiếc túi ví cùng số tiền 16.250.000 đ và 03 chiếc thẻ Ngân hàng Agribank trả lại cho bị hại chị Phan Thị A. Sau khi nhận lại tài sản, chị A không yêu cầu gì về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm x, s khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Phạm Văn Q phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Nam Định;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Hải Hậu;

- Chi cục THADS huyện;

- THA phạt tù;

- Bị cáo, bị hại;

- CA huyện Hải Hậu;

- Sở tư pháp;

Ngô Thị Hòe

- UBND thị trấn Quất Lâm;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Bình Nguyễn Ngọc Chinh

Ngô Thị Hòe

Cỡ chữ